Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

CHƯƠNG 3: VÀO ĐỜI (Tiếp theo)

Mệt mỏi.
             Trở lại chuyện tôi đi làm ở cơ quan trung ương đây. T
ôi về công tác tại  phòng Đào tạo thuộc một Cục Kĩ thuật. Phòng chỉ có ba anh em: anh Quy trưởng phòng, anh Hữu cùng học Đại học Tổng hợp trên tôi ba năm và tôi. Sau mới có thêm hai bạn nam học sau tôi một khóa. Những ngày mới đi làm, tôi buồn lắm. Trưởng phòng Quy đưa tôi một đống tài liệu đọc để hiểu những nguyên tắc làm việc của cơ quan, tính chất mật và tuyệt mật của số liệu, chứ chưa làm gì cả. Hàng ngày tôi đọc, một lát lại nghỉ giải lao chạy ra cửa sổ tỏ vẻ ngắm xuống đường nhưng thực ra là để khóc. Tôi nhớ trường lớp, nhớ bạn, nhớ người yêu. Tôi không thích hợp ngay được với cái lối “sáng xách ô đi tối xách về” kiểu công chức viên chức nhà nước này. Anh Hữu mới quen mà đã có cảm tình ngay với tôi và tán luôn thật bạo dạn. Tôi ngại quá đành tông tốc kể rằng tôi đã có người yêu chính thức rồi. Anh ấy bảo “Kệ, thứ nhất cự li thứ nhì cường độ”. Tôi buồn cười và “kệ ” thôi. Nói vậy chứ các anh đều lớn tuổi hơn tôi và là người tử tế, thấy cô em “cứng” quá cũng “cho qua”, chỉ thi thoảng gửi thơ lục bát tán vui vẻ trêu đùa “Bát đũa còn có khi xô, Sao Thư giận mãi đến giờ chửa nguôi”, nhìn tôi và tủm tỉm cười.
             Thế rồi tôi chuẩn bị giáo trình dạy Toán, đến khi bị từ chối thì bàn giao cho anh Ngọc - mới chuyển từ miền núi về, vốn cùng khóa học với anh Hữu. Rồi tôi nhận công việc mới. Phải tự thấy rằng thần kinh mình rất vững nên tôi mới nhận nhiệm vụ mà không có phản ứng gì. Đó là tập gẩy bàn tính gỗ và soạn bài để đi phổ cập sử dụng nó trong công việc tính toán. Chả là cơ quan tôi được giao nhiệm vụ tổ chức cơ khí hóa và tự động hóa công tác tính toán trong các ngành kinh tế quốc dân, mà thời bấy giờ làm gì có máy móc đâu, toàn tính nhẩm, tính tay viết trên giấy thôi, nên trong kế hoạch dài hạn nặng nề được giao phó, thoạt tiên chúng tôi phải triển khai công cụ tính toán thô sơ nhất đã, đó là bàn tính gẩy. Những ông lang bán thuốc bắc lâu nay thường dùng bàn tính gẩy 7 viên bi . Nó được chia ra thành hai phần, phía trên mỗi gióng có 2 viên bi, phía dưới có 5 viên bi. Giá trị của viên bên dưới là 1 thì viên trên là 5. Anh Quy trưởng phòng tôi cải tiến bàn tính này thành bàn tính 5 viên, tức là mỗi gióng chỉ có 5 viên, phần trên có 1 viên giá trị 5, phần dưới có 4 viên mỗi viên giá trị 1, khi gẩy thì đặt bàn tính ngược với kiểu cũ, và gẩy bằng cả mười ngón tay, không mổ cò. Bàn tính này được gọi là “bàn tính cải tiến” và cần được phổ biến rộng rãi, nó tốn ít vật liệu hơn, mà gẩy nhanh hơn. Tôi là người được giao nhiệm vụ tuyên truyền, đào tạo các thầy (oách quá!) rồi các thầy tiếp tục đào tạo phổ biến nhân rộng. Tôi phải đi kiểm tra đôn đốc phong trào trong ngành mình và khích lệ các ngành bạn. Thực ra hai bạn nam phòng tôi đều được phân công cùng làm công việc như tôi, nhưng họ dứt khoát chối từ, nên về sau được phân công việc khác. Lúc đầu tôi thấy là lạ, làm sao mà học Tổng hợp Toán lại ra làm cái việc vớ vẩn này. Nhưng thôi thì cách mạng cần việc gì làm việc đấy, mà suýt nữa chả có cơ quan nào nhận thì mình còn sống dở chết dở ấy chứ. Thế là tôi trổ hết mẹo vặt để làm sao gẩy nhanh nhất, rồi còn lí sự để nhân để chia để khai căn nữa. Tất nhiên là có sự gợi ý chỉ đạo của anh Quy. Có một lần tôi lọ mọ đọc được ở đâu một cuốn sách nhỏ nói là từ lâu lắm rồi người Nhật đã thay đổi bàn tính cũ thành bàn tính 5 viên y trang. Tôi băn khoăn, thế trưởng phòng của tôi có đọc được để biết vậy mà vẫn nhận bàn tính cải tiến là của mình không, nhưng tôi sợ không dám hỏi, sau rồi tôi nghĩ có thể những ý sáng tạo là trùng lặp, nên thôi cho qua, và cứ việc mình mình làm thế thôi.
            Tôi nhớ lại, khi mở những lớp giảng đầu tiên, học trò của tôi toàn là cán bộ cự phách trong “làng” tính toán, có người đã thạo bàn tính cũ rồi, có người chưa. Khi tôi giảng, mấy anh đàn ông bàn tán chỉ trỏ rồi cười tôi, không chăm chú nghe gì cả. Tôi chợt nhớ, bố tôi kể khi ông đi dạy học lần đầu tiên ông mới có 18 tuổi, lúc vào lớp, học viên không ai thèm đứng lên chào, ông bực lắm. Hôm sau ông nghĩ ra mẹo là vừa vào lớp ông đã vẫy tay “cảm ơn cảm ơn các anh chị ngồi xuống” thế là người ngồi bàn trước tưởng người ngồi bàn sau đứng lên chào, cũng đứng lên. Cứ như vậy, cuối cùng mấy bữa sau dần dần cả lớp đứng lên chào nghiêm chỉnh. Bấy giờ tôi không ở trong tình trạng ấy, nhưng cần vận dụng ngay, phải lấy độc trị độc mới được. Tôi vừa giảng vừa nhìn xoáy thẳng vào mấy ông tướng này, nhìn không rời mắt dù chỉ một giây. Thế là mấy chàng đâm ngượng, liếc sang chỗ khác, sau không dám nói chuyện nữa. Rồi khi giảng tôi đưa ra những ví dụ vui vui và biểu diễn động tác cải tiến, tôi ra bài tập mọi người làm và so sánh đáp số, thế là cả lớp đều chăm chú nghe chăm chú gẩy, quên hẳn chuyện cười cợt cô giáo trẻ ranh. Có một lần đi tuyên truyền bàn tính gẩy cải tiến tại phòng kế toán của một Sở, mấy cha kì cựu có vẻ khó chịu, mình già đời làm kế toán gẩy bàn tính rõ thành thục mà bây giờ con ranh này lại bảo bàn tính mới tốt hơn, tính nhanh hơn. Đã vậy thì thi cho nó biết tay, cho nó hết nói phét đi. Thế là họ đưa ra một trang số liệu dày đặc cần cộng. Họ cử một đại diện gẩy bàn tính nhanh nhất để thi với tôi. Thật sự tôi bất ngờ, thấy hoảng, nhưng không thay đổi được tình thế. Tôi đành cố làm thật bình tĩnh. Tôi và anh ta bắt đầu thi có mọi người chứng giám. Tiếng lách tách của bàn tính anh ấy gẩy rộn ràng, vì anh ấy gẩy mạnh, và do dùng bàn tính gẩy cũ thường có những động tác thừa. Còn bàn tính của tôi không phát ra âm thanh mấy nhưng nhìn vào sẽ thấy tôi gẩy uyển chuyển hơn bởi dùng nhiều ngón tay. Kết quả thật bất ngờ, tôi hoàn thành xong trước ít phút, còn kết quả thì hai người giống nhau. Thật hú vía. Do kết quả ấy mà họ mới tiếp tôi và bàn bạc cẩn thận, không tỏ ý khó chịu nữa.
               Tôi cứ đi lang thang Sở này Sở nọ, rồi Cục nọ Cục kia, và đi cả các tỉnh. Có lần tôi đi Nam Định và Thái Bình. Vì say ô tô, nên tôi đi tàu hỏa đến Nam Định, mở lớp dạy ở đó, kết thúc lớp là buổi chiều sẩm tối, xong đi bộ tiếp sang Thái Bình mặc dù đường dài tới 18 km. Bao nhiêu xe khách vụt qua dừng đón tôi, nhưng tôi lắc đầu từ chối. Tôi đi bộ quen rồi, từ nơi sơ tán, trên đường về Hà Nội tôi đi bộ 40 km cơ mà, nay có 18 km ăn nhằm gì. Tôi đi nhanh lắm, và xuất hiện ở Thái Bình khoảng hơn tám giờ tối. Mọi người ngạc nhiên sao tôi đến cơ quan vào giờ này.
                 Cục trưởng Thái Bình rất quan tâm đến cô giáo từ trung ương về mở lớp bàn tính gẩy cải tiến và kĩ thuật tính toán. Ông ghé vào nhà ăn, thấy tôi ăn xuất cơm tập thể chỉ có đĩa rau muống luộc nhỏ và mấy miếng đậu phụ kho xuông, ông bảo nhà bếp từ hôm sau phải bổ xung cho tôi thức ăn. Vậy là sau đó bữa nào tôi cũng được phát thêm một đĩa tôm gạo rang, mặn ơi là mặn. Dù sao tôi rất biết ơn Cục trưởng, và kỉ niệm này tôi không bao giờ quên.
           Có một buổi trưa tôi được báo mời dự bữa cỗ ở nhà dân, tôi không kịp biết lí do, cứ đến là đến thôi. Tới nơi, người ta chỉ cho tôi một cái màn mắc xùm xụp lên một cái chiếu đôi và bảo tôi chui vào đó. Màn là màn cũ ngày xưa màu xám xịt nên từ ngoài tôi không nhìn thấy gì cả. Tôi lật màn chui vào thấy sừng sững năm ông đàn ông đang ngồi quanh mâm cỗ. Tôi giật cả mình, xong buồn cười quá vì mọi người giải thích là phải ăn cỗ trong màn vì nhiều ruồi! Một buổi tối khác, tôi được mời ăn mít. Bọn trẻ đang ngồi ăn mít la liệt dưới đất, bóc từ nhiều miếng bà chủ nhà bổ sẵn. Thấy thế, tôi ngồi xà xuống cùng ăn với bọn trẻ. Bà chủ nhà la lên “cô giáo ơi chúng nó bẩn lắm, tôi đang bóc mời cô đĩa riêng đây này!”.”Ôi không sao chị ạ, em ăn với các cháu cho vui”. “Cô giáo bình dân quá nhỉ?”. He he tôi thầm nghĩ, chị ơi mít là thứ em thích nhất trong các loại hoa quả, và khả năng ăn của em là vô tận. Em vốn bình dân thì đúng rồi nhưng chị làm sao biết được em ăn với các cháu vừa được tiếng dễ hòa đồng, vừa ăn được nhiều ai biết đấy là đâu, lát nữa chị bóc xong em ăn thêm mấy miếng nữa, chứ em ngồi đợi đĩa mít của chị rồi em ăn hết cả đĩa to tướng như vậy thì còn ra thể thống gì nữa chứ. Tôi gian đến vậy là cùng.
                  Phải mất gần hai năm tôi đi rong ruổi khắp nơi như thế, lúc thì dạy ở Hà Nội, và xung quanh Hà Nội. lúc thì đi xa. Tôi bận mải và gắng quên những buồn chán.  Tôi đi tìm niềm vui ở mỗi lớp với những học viên đa phần lớn tuổi hơn tôi. Tôi dần vui lên khi biểu diễn gẩy bàn tính nhanh nhẹn uyển chuyển trước sự chăm chú của mọi người. Tôi không còn thời gian để ý xem có bao nhiêu con mắt thán phục quí mến, bao nhiêu con mắt chán nản và chế giễu. Tôi nhận ra khả năng thuyết trình có phần lôi cuốn của mình. Chả trách khi ra trường, ông Trời cứ xui khiến tôi ghi cả ba nguyện vọng là “dạy học”, nhưng có ai phân công vậy đâu. Bây giờ thì tôi đang dạy học đấy thôi, còn yêu cầu đòi hỏi gì nữa?
                  Những ngày làm việc ở Hà Nội, tôi rất chăm vào thư viện đọc sách, đọc cho quên bớt nỗi buồn rằng mình học đại học Toán mà đi gẩy bàn tính cộng trừ nhân chia, lại đi giảng vài cái kĩ thuật tính toán làm tròn số gượng gạo, rằng luôn phải gồng mình lên những là hoàn thành bất kì nhiệm vụ nào được giao, vân vân và vân vân. Nhưng rồi tôi tự so sánh, anh Quy đi học bao năm ở nước ngoài về mà chỉ nghiên cứu bàn tính gẩy cải tiến, thì mình học trong nước đi triển khai phổ biến cái công trình sáng tạo ấy là may lắm rồi còn gì nữa?Và càng về sau tôi càng tự trấn an rằng, mình đang làm một công việc rất có ý nghĩa đó là giúp cho mọi người có thói quen tính toán bằng công cụ thô sơ rẻ tiền, nhưng không mệt mỏi dễ sai như khi tính nhẩm thủ công. Đấy là cố vậy thôi, còn thì trong thực tế, phong trào có được lan rộng lắm đâu, ai quen dùng bàn tính gẩy cũ thì cứ cũ mà dùng, ai chưa biết thì tập dùng nhưng không dễ kiên trì làm quen được. Về sau, phong trào tạm lắng xuống nhường chỗ cho máy tính quay tay Nisa, Phi Ngư thịnh hành, vì dễ sử dụng. Đến bây giờ, tôi còn giữ ấn tượng khó quên vui vui là lạ của ngày xưa, đó là mỗi khi bắt gặp bàn tính gẩy cải tiến xinh xinh, phân màu từng ba gióng một, nằm ngay ngắn trong một số cửa hàng mậu dịch, được bán thoải mái không phải cung cấp, phân phối gì.
           Vậy là tôi đã miệt mài với công việc tưởng chừng rất tẻ nhạt và vô lí gần hai năm trời. Ngày ấy, sau 18 tháng thực tập là được vào biên chế chính thức. Tôi được duyệt ngay biên chế vì luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhiều khi Cục trưởng giao thẳng cho tôi (không qua phòng) viết đủ loại công văn giấy tờ gửi đi các ngành, địa phương và mỗi khi trình lên, ông không đọc kí luôn và chỉ nói đúng một câu “tôi kí đây còn cô thì chịu trách nhiệm nhé”. Lúc đầu, tôi ngớ ra tưởng Cục trưởng nói đùa hóa ra thật. Kể cũng vui. Lãnh đạo “tín nhiệm” thế chỉ tội ông không nhớ tăng lương tôi khi đến hạn, và sau này chỉ một câu “tôi xin lỗi, tôi quên không đề nghị nâng lương nên cô thiệt thòi”. Ngày ấy, tôi chả nghĩ gì, nhưng sau này, cuối đời rồi, khi họp lớp cũ với các bạn, mọi người hỏi lương, tôi nói, thì chả ai tin, cứ khoát tay bảo tôi nói dối, làm gì có chuyện lương thấp thế. May mà tôi “ghét” tiền nên tăng hay không tăng lương chả có gì quan trọng!
               Ấy, lương không quan trọng mà một cái phiếu ăn tập thể lại quan trọng. Nó làm tôi khốn đốn cả năm trời. Số là thế này, năm đầu đi làm tôi ăn cơm nhà, năm sau ăn ở nhà ăn gần cơ quan. Một tháng nộp 18 đồng, cùng với tem gạo 13 kg. Nhà ăn phát các phiếu ăn từng bữa. Nếu bữa nào không ăn thì đến báo trước và người ta đóng dấu vào phiếu, rồi cuối tháng thanh toán tiền, và nhận lại phiếu lương thực tương ứng. Tem lương thực này có thể dùng để đổi lấy bánh mì rất rẻ. Một lần, tôi đi công tác vắng, quên không báo trước cho nhà ăn. Khi về, sực nhớ nên tôi đến, định trình bày vì công tác gấp chưa kịp báo cắt cơm, mong họ thông cảm mà đóng dấu cho cái phiếu ăn. Nhưng nhìn quanh căn phòng, chả có ai ở đó. Thấy sẵn con dấu, tôi liều mạng đóng béng vào phiếu ăn. Biết là gian đấy, nhưng tôi tự nhủ, mình không trộm cắp của ai, của mình mình tiếc, cần thanh toán mà dùng cho bữa khác chứ. Quan trọng là ở cái tem phiếu ấy, chứ không phải tiền của bữa ăn, có đáng gì bao nhiêu. Nhưng khổ thân tôi, gian thì phải chịu, đúng lúc đóng dấu thì người ta trở về, bắt được quả tang con bé vừa tự ý đóng trộm, thế là họ lập biên bản ngay, mặc cho tôi trình bày. Tôi không khóc, nhưng tôi biết mình sai, nên đành chịu và kí vào biên bản, kí rằng đã tự ý đóng dấu xác nhận không ăn…một bữa cơm tập thể! Biên bản tức tốc được gửi về cơ quan. Năm ấy, tôi bị cắt “lao động tiên tiến”, một năm duy nhất trong đời không đạt danh hiệu thi đua này. Còn may là mấy anh lãnh đạo Phòng, Cục đều quí và thương tôi nên không làm ầm ĩ  lên, bạn bè đồng nghiệp thì đều cùng trường đại học với mình, ái ngại cho mình và họ là nam giới không thích buôn lắm chuyện nên lơ đi (đoạn này là tôi hàm ý nói xấu phụ nữ đây, hay thích truyền khẩu các vụ “Oa tơ ghết”. Xin lỗi chị em nhé, đừng giận, tôi cũng là phụ nữ mà!). Phải công nhận ngày ấy nghiêm thật, và tôi xấu hổ day dứt vô cùng. Tôi dấu MQ, dù anh sắp là chồng tôi rồi. Nhưng không thể giữ kín một mình, tôi phải hẹn một buổi “đi chơi” và tâm sự với bạn cùng lớp đại học với tôi và MQ. Tôi kể và khóc, tôi ngượng lắm. Bạn nghe xong an ủi mãi tôi mới nguôi ngoai. Tôi xấu hổ bởi chính tôi, giống MQ, là người rất ghét gian dối. Chuyện nói dối thì cả đời công tác của tôi, có khi số lần nói dối chỉ đếm bằng mấy đầu ngón tay, đến nỗi ông giám đốc của tôi những năm sau này, đã phải bảo “Chị thật quá, thật đến mức khó chịu!!!”. Vậy mà tôi không vượt qua được một cái tem 225 gam lương thực trời đất ạ, nên tôi mới khổ thế. Kỉ niệm buồn ấy theo tôi mãi suốt cuộc đời, không cách gì xóa nổi. Tôi chẳng nhớ sau lần ấy, bạn có mách MQ hay có lúc nào tôi kể với MQ không, hình như không bởi tôi sợ MQ không thông cảm. Tôi vẫn còn cảm giác sợ hãi và thương các bạn đào trộm sắn hồi nào mà chi đoàn bắt làm bản kiểm điểm đó.
            
Ngày tháng dần trôi cùng những chuyến tôi đi phổ cập bàn tính gẩy mệt mỏi về thể xác, nhức đầu do đấu tranh tư tưởng để chịu đựng, mà không phải do làm gì vất vả cao siêu. Bù lại, thời đó, các sinh hoạt công đoàn, đoàn thanh niên, tập quân sự, đều diễn ra ngoài giờ chính quyền, trong đó có sinh hoạt văn nghệ thật sôi nổi với những buổi biểu diễn trong cơ quan, liên cơ quan, tôi rất nhiệt tình tham gia và bớt đăm chiêu ủ dột đi nhiều. Chúng tôi lại hợp xướng Sông Lô, Sông Thao như ngày sơ tán, có điều khác là tôi được mặc áo dài quần trắng, tô ít phấn son, và đứng dưới ánh điện tỏa sáng chứ không phải dưới ánh đèn măng sông trên núi rừng Thái Nguyên thuở trước.
          Đi làm, thi thoảng công đoàn phân phối bánh kẹo, này là mỗi người hai cái bánh nướng tròn tròn xinh xinh, này là từng dúm kẹo cứng, kẹo bi nhiều màu chia ra cẩn thận, rồi mỗi người đóng tiền có mấy hào thôi, mang gói của mình về nhà. Lúc đầu, tôi ngạc nhiên và khó chịu lắm. Sao không ăn chung cho vui, sao lại mang về ? Lâu nay tôi quen cuộc sống sinh viên, thiếu đủ gì đều có nhau mà. Lạ rồi cũng phải chấp nhận, dần dần vui nữa vì có mang về thì me mới được ăn, hoặc cho thằng em vài cái chứ.


                     Trích từ Hồi kí: NƯỚC MẮT VÀ NỤ CƯỜI
                                   Bùi Thị Kim Thư
                                         ( Còn nữa )

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Chùm thơ du lịch




                             Đoàn tham quan tại Long Sơn tự Nha Trang


Qua Hải Vân
Vừa ăn trưa, vừa Hải Vân
Chợt mưa chợt nắng, cơn gần cơn xa
Men bờ trời nước bao la
Quanh co tầu lượn gọi là Hải Vân.
24/7/2013



Chiều Diêu Trì
Diêu Trì nhưng chẳng thấy ao
Giăng giăng phố chợ ồn ào bán mua
Gà thơm xôi nóng xứ dừa
Một chai Bầu Đá say sưa mấy ngày.
24/7/2013



Đà Lạt
Đường lên Đà Lạt quanh co
Ngả nghiêng xe lắc đung đưa phận người
Rừng thông nhà gỗ lưng đồi
Xe qua Phố Nướng dậy mùi khoai ngô .
26/7/2013



Vũng Tàu
Vũng tàu hôm đến trời mưa
Sáng đi trời lại lưa thưa rắc đầu
Bạn bầu mời gặp bạn bầu
Ta xi dạo phố đêm thâu quành quành.
28/7/2013



Gửi người không gặp lại
Giữa thành phố ồn ào
Tìm đâu ra nấm mộ ?
Một thoáng bùi ngùi
Gửi vào trong gió...

Một chút cảm tình
Đầu đời gặp gỡ
Trong trái tim anh
Em mãi là
NỖI NHỚ…!

Thành phố HCM
31/7/2013
Đỗ Đình Tuân

Ngược đời


Sinh sau lại được gọi gìa
Rõ ràng đẻ trước lại là vẫn non
Ngược đời “Bố núi” “Rừng con”
Rừng thì già kiệt núi còn đương xuân 

                                Nguyễn Xuân Hiểu

Mùa thu yêu mến


Đầu thu làn gió cũng buông lơi
Thoang thoảng hương thơm bỡn cợt người
Ở cuối sông tương nghe bạn gọi
Cuộc tình ngọt đắng bởi ngâu rơi
Bầu trời xanh thắm ngàn mơ ước
Trái đất vuông tròn vạn sắc tươi
Thu đến muôn vàn hoa lá đẹp

Cuộc đời đáng mến lắm người ơi
                                             VN

EM VẪN NHƯ NGÀY XƯA





Năm tháng dù đi qua
Nhưng tình yêu đứng lại!
Thơi gian dù trôi qua
Nhưng tình yêu trẻ mãi….
 EM VẪN NHƯ NGÀY XƯA!
 Đôi tay mềm âu yếm
Đôi mắt tròn ngây thơ
Giữ hồn anh đáy giếng
Cho anh mãi mát hè
Cho lòng anh ấm đông
Cuộc đời dù bão giông
Giếng tình em trong mãi!
 EM VẪN NHƯ NGÀY XƯA 
TG: Đặng Thiêm

CHƯƠNG 3: VÀO ĐỜI ( Tiếp theo )

Tình người            
           
Bây giờ tạm gác chuyện MQ và gia đình tôi để nhớ về bạn bè và công việc ở cơ quan đã. Vào thời gian này, cơ quan tôi nhận nhiều người ở khoa Toán trường tôi lắm, họ về trước tôi hai, ba năm, sau mới có thêm hai bạn ở khóa sau tôi. Trong số đó, chỉ mình tôi là nữ, và anh Hoàng Thư là người đặc biệt hơn cả. Tôi biết nhưng chưa quen anh từ khi còn học năm thứ nhất ở trường đại học. Anh học trước tôi hai năm. Anh bị tật từ nhỏ, gù cả lưng và cả ngực, người thấp bé và khi nói thường phải thở dường như mệt lắm. Anh ở Hà Nội lâu rồi, nhưng quê gốc ở tỉnh khác. Suốt từ nhỏ, anh toàn tự học. Vào Đại học Tổng hợp là lần đầu tiên anh đến trường, anh thi kiểu thí sinh tự do mà. Anh học giỏi lắm, đặc biệt các môn Toán trừu tượng. Anh giỏi tới năm ngoại ngữ Anh, Nga, Pháp, Trung và Tây ban nha, và thường chuẩn bị bài giảng cho thủ trưởng trình bày ở các cơ quan. Anh làm quen với tôi mỗi khi vào thư viện cơ quan đọc hoặc mượn sách. Nhưng làm quen không phải để nói những lời tử tế mà là để công kích tôi, rằng tôi học Toán Phương pháp tính mà làm gì, đó không phải là Toán; rằng tôi học và dạy kỹ thuật tính toán, dạy dùng bàn tính gẩy thủ công, máy tính quay tay, máy cơ điện chạy xoành xoạch, rồi sau này đến cả lập chương trình chạy máy tính điện tử đèn nhấp nha nhấp nháy cũng chẳng để làm gì, đó là những thứ phù phiếm vớ vẩn.Tôi chẳng hiểu sao anh như vậy, nhưng tôi không bao giờ bực mình tức giận anh cả. Tôi chỉ thấy thương anh lắm vì anh giỏi mà bị tật nguyền quá nặng. Rồi một vài người khác kể với tôi rằng, anh cũng trêu chọc người ta kiểu như thế, khiến người ta ghét quá, nhiều khi chỉ muốn túm ngực hay lưng anh kéo lên cho hả giận. Ôi nghe mà kinh cả người. Về sau, khi tôi và anh thân nhau hơn, anh mới giải thích cho tôi nghe rằng anh bị mặc cảm. Anh luôn cảm thấy mọi người sẽ nhìn anh bằng con mắt coi thường, chế nhạo, hoặc có khá hơn thì chỉ thương hại thôi, nên anh phải chủ động trêu tức mọi người để khi tức điên lên có khinh ghét anh thì họ vẫn là kẻ bị động!       
            Anh kể tôi nghe một chuyện buồn. Có một lần tết đến, sắp tới đêm giao thừa, anh ra hồ Hoàn Kiếm một mình. Đang đi trong dòng người náo nhiệt, bỗng anh trông thấy đi ngược về phía mình là hai vợ chồng người anh trai cùng một số bạn bè cùng đi đón giao thừa. Khi sát lại gần nhau, vợ chồng người anh vẫn chuyện trò vui vẻ bình thường với bạn và coi như không nhìn thấy anh, không biết anh là ai cả. Anh tủi thân quá. Anh nghĩ rằng anh chị đã không dám hỏi mình một lời vì ngượng với bạn bè có người em tật nguyền xấu xí như anh. Thế là từ sau cái tết ấy, anh không bao giờ đón giao thừa ở hồ Gươm nữa, chỉ lững thững đi bộ một mình qua những phố nhỏ và vắng vẻ của Hà Nội, đi mà chả biết đi đâu và đi làm gì. Anh đi chậm rãi nhưng nhìn thẳng, không bao giờ dám ngó vào trong nhà người ta, sợ bắt gặp đôi vợ chồng hay cặp tình nhân nào vui vẻ âu yếm nhau, hay những đứa trẻ bụ bẫm đáng yêu đang quây quần bên bố mẹ chúng. Tôi nghe mà nước mắt chảy ròng, nhưng phải cố nén và che dấu đi, và ngay lúc này tôi vẫn không chịu nổi vì thương anh Thư quá chừng.
            Anh sống với bố mẹ anh ở ngôi nhà thuộc một trong những phố sầm uất nhất của Hà Nội. Nhưng gia đình anh ở phía bên trong, còn bên ngoài là cửa hàng của người khác. Anh mời đến chơi, tôi tới và bố mẹ anh mừng lắm. Ông bà rất buồn và thương con. Ông bà dặn tôi chịu khó đến chơi với anh, ở nhà anh không bao giờ nói chuyện với ai cả, cứ lầm lũi đi về một mình thôi. Anh là con út, các anh chị khác cao lớn, rất đẹp và đều có tài. Tôi thực lòng muốn đến thăm anh nhiều, nhưng ngại người yêu không bằng lòng, nên mỗi lần đến cứ như đi trốn mặc dù MQ có biết đâu. Mỗi lần đến, tôi đạp xe đạp vội vàng suốt quãng đường gần bốn km từ nhà tôi đến nhà anh. Tôi dấu cả me tôi nữa. Có một lần, tôi còn mua vé xem phim mời anh đi xem tại rạp chiếu phim đẹp nhất của Hà Nội. Tôi hẹn anh chờ tôi ở vườn hoa Mê Linh đối diện hồ Hoàn Kiếm. Tôi muốn anh bớt đi một phần mặc cảm, tôi muốn trước mắt mọi người, anh vẫn có bạn gái đi chơi rồi đi xem phim hẳn hoi. Nhưng thật khổ cho tôi và cho anh, hôm đó người ta chiếu một bộ phim hài của nước ngoài có cảnh bữa tiệc xuất hiện một anh hề giống hệt diện mạo của anh. Tôi mua vé là tình cờ đâu có biết chiếu phim gì. Tôi chỉ muốn anh vui thôi mà. Tôi nhắm mắt lại, tôi xấu hổ và thấy mình thật có lỗi với anh. Tôi bảo anh đi về sớm, chúng tôi ra khỏi rạp ngay sau đó. Mặc cho anh nghĩ sao, tôi chỉ im lặng trong một nỗi buồn khủng khiếp. Anh cũng im lặng. Và thế là từ sau đó, không bao giờ tôi dám đưa anh đi đâu để xem gì nữa. Tôi sợ vô tình làm tổn thương anh thêm.
                Những lần ít ỏi gặp tôi, anh vẫn thế, vẫn một giọng bông đùa diễu cợt trêu tôi, nhưng tâm tư thầm kín của anh thì trải dài theo những lá thư dày đặc chữ nhỏ li ti gửi tôi theo đường bưu điện hoặc đưa trực tiếp. Anh đã thầm gọi tôi: “Kim Thư ơi, anh muốn gọi em ngàn lần, người bạn cùng tên mà anh mến thương,…”, rồi anh viết hoài bằng một thứ ngôn ngữ tình cảm đặc biệt, đầy triết lý khó hiểu nhưng không kém phần lãng mạn. Anh đọc nhiều tiểu thuyết quá, anh biết lắm thứ mà tôi không biết. Tôi chỉ cảm nhận đuợc ở anh một tình thương yêu cháy bỏng cuồng nhiệt nhưng luôn luôn phải ghìm mình lại. Tôi càng thương anh nhưng sợ anh nữa, mặc dù chưa một lần nào anh dám cầm tay tôi. Tôi luôn kể cho anh nghe về MQ, rằng chúng tôi đang yêu nhau và sắp cưới mặc dù biết rằng như thế làm anh buồn hơn. Tôi không muốn dấu để anh hy vọng thêm tội nghiệp. Tôi nói chuyện với anh thì như vậy, trong khi đêm đến, tôi mơ thấy tôi sẽ lấy anh chứ không phải lấy bạn mình. Thật là kỳ lạ nhưng đấy là sự thật. Tất nhiên tôi chẳng bao giờ dám nói cho người  yêu nghe về những giấc mơ đó. Cho đến tận bây giờ đôi lúc tôi cứ tự hỏi mình, chẳng lẽ trong con người ta, có những phút tình thương người còn mãnh liệt hơn cả tình yêu sao???
               Trước mắt anh, tôi là người bạn gái nhỏ mà anh đem lòng quí mến  yêu thương, nhưng là một người cực kì khó hiểu. Anh luôn ngạc nhiên và tìm mọi cách để hiểu, vì sao tôi là một cô gái mới lớn lên, học hành tử tế, ra trường đi làm, có người yêu khá sớm, vậy mà tôi lúc nào cũng đăm chiêu, buồn bã. Tôi chỉ vui cười tí chút mỗi lần mang đến cho anh một quả mận thật to mà tôi đã lau bóng nó hàng giờ, hoặc dúi vào tay anh mấy cái kẹo cực kì ngon, cứ như là còn trẻ con lắm ấy. Bởi lẽ, những nỗi buồn của tôi, tôi có bao giờ kể cho anh nghe đâu. Tôi chỉ nghĩ là anh bất hạnh, bất hạnh lắm, nên tôi thương anh và là bạn của anh. Anh cần biết làm gì những nỗi buồn vớ vẩn của tôi? Tôi thân với anh, hi vọng rằng anh đỡ buồn và đỡ cô đơn. Tôi luôn khích lệ anh, nói với anh rằng mọi người đều tôn trọng anh, anh đừng xa lánh và hãy gắng hòa mình với họ, như thế anh sẽ cảm thấy đỡ khổ và cuộc sống sẽ dễ chịu hơn. Anh vẫn chơi với tôi, nhưng dường như lúc nào anh cũng hoảng sợ khi nghĩ đến cái ngày tôi đi lấy chồng, có lúc không kiềm chế được thậm chí anh còn thổ lộ “chả lẽ anh lại cầu mong cho em …bất hạnh (?), để anh có thể thương em nhiều hơn...”
             Và cứ thế cho tới ngày tôi và MQ cưới nhau thật. Tôi không dám nói trực tiếp với anh, tôi chỉ gửi thiếp cho anh rồi đi ngay. Sau đó, tôi nhận được thiếp gửi trả lại qua đường bưu điện, và tất nhiên anh Thư đã không có mặt trong đám cưới của tôi. Thế là từ đó, anh không gặp gỡ và chuyện trò gì với tôi nữa. Nếu có nhìn thấy nhau trong cơ quan, anh quay đi lảng tránh, anh coi như chưa quen tôi bao giờ. Và phải như thế sau 12 năm, anh mới gửi một lá thư xin lỗi tôi vì hành động “trẻ con” của mình, và đề nghị nối lại quan hệ bè bạn với tôi. Thực ra anh chẳng có lỗi, có lẽ trong chuyện này tôi có lỗi nhiều hơn, tại sao tôi không thể nói gì với anh mà gửi cái thiếp như thế trong khi tôi quá biết rằng anh không thể nào đến dự được? Nhưng thôi tôi không dám nhắc gì đến chuyện đã qua, tôi lại thăm anh hàng tuần, kể anh nghe các con tôi lớn bao nhiêu mỗi khi anh hỏi; nhưng hầu như tôi không đi một mình, mà cùng một bạn gái đến thăm anh. Anh đã chuyển sang cơ quan khác, tâm tính anh đã đổi thay nhiều, anh không còn trêu chọc mọi người nữa. Anh còn tự nguyện xin gia nhập và đã vào Đảng, rồi anh làm công tác quản lí chứ không đơn thuần nghiên cứu. Mỗi lần đến chơi, anh không muốn nghe tôi cáo từ ra về, chỉ cần hơi thấy tôi có biểu hiện sắp đứng lên là anh nói tiếp sang chuyện khác. Tôi hiểu và rất thương anh, nhưng vui vì anh cứng rắn hơn xưa. Về sau con tôi lớn, tôi dắt chúng đến thăm bác luôn. Chỉ mỗi tội không dám đưa chồng đến thôi. Nhưng tôi không dấu MQ, tôi thường kể mỗi khi tôi đến thăm anh Thư. Chỉ có những bức thư đốt dần theo thời gian là chồng tôi không biết.
              Anh đã mất vì một căn bệnh hiểm nghèo.Thật ra anh ốm đã lâu nhưng dấu không cho tôi biết. Tôi thì bận ở cơ quan và bận cả việc nhà nữa, lâu chưa đến thăm, nên không biết anh  nằm bệnh viện. Tới khi nặng lắm rồi và hình như biết mình không qua khỏi anh mới nhờ bạn bè nhắn tìm tôi. Tôi đến thăm anh ngay khi nhận được tin, anh vẫn còn tỉnh táo và ngồi dậy được. Tôi làm một cốc cam vắt rồi xúc từng thìa một cho anh. Anh uống hết và tỏ ra rất vui, anh còn hỏi thăm tôi công việc ra sao nữa. Tôi ở đó đến 10 giờ đêm mới về, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng khi anh còn tỉnh. Sáng sớm hôm sau trước khi đi làm tôi ghé qua bệnh viện thì bác sĩ bảo anh đã hôn mê sâu từ đêm chuyển sang phòng cấp cứu rồi. Từ đó ngày nào sau khi ở cơ quan về, tôi đều đến thăm và chăm sóc anh cùng với người thân trong gia đình anh. Tôi cũng nói để chồng tôi biết tình trạng của anh Thư và việc tôi qua thăm anh ấy luôn. MQ biết tôi quí anh Thư nên không tỏ ý phiền hà gì cả.
           Anh Thư đã hôn mê và lẫn lộn chả biết gì. Tuy nhiên khi tỉnh lại, anh có vẻ nhận ra tôi, nhưng không nói được chỉ gật gật đầu. Lúc anh mất, trong đám tang anh, hình như tôi là người khóc nhiều nhất. Cả cơ quan không thể hình dung được tôi và anh thân nhau từ bao giờ, và vì sao tôi xúc động đặc biệt đến thế. Rồi thời gian cứ trôi nhanh vùn vụt, bao nhiêu đổi thay đến với cuộc đời tôi. Nhưng tôi không bao giờ quên được hình bóng một người bạn lớn  bị tật nguyền về thể xác nhưng trí tuệ, tâm hồn thì thật tuyệt vời và nghị lực phi thường hiếm có. Thi thoảng tôi vẫn đến thăm mộ anh tại một vùng đất trồng hoa của Hà Nội, và trong gió nhẹ lay động những cánh hoa đủ màu khoe sắc thắm, tôi vẫn nghe vẳng đâu đây tiếng gọi của anh “Kim Thư ơi, anh muốn gọi em ngàn lần, người bạn cùng tên mà anh mến thương…” nghe để cảm nhận đến tận cùng  trong cái vô biên thinh lặng tình người.


                 Trích từ Hồi kí: NƯỚC MẮT VÀ NỤ CƯỜI
                                      Bùi Thị Kim Thư
                                              (Còn nữa)

TRANH QUAN CÔNG

Bao năm người mến với dân yêu
Là mốt chơi xưa lại mỹ miều
Tết đến mua về treo trước cửa
Xuân sang sắm lấy dán trên kèo
Râu dài mặt đỏ an thần phật
Mắt xếch đao to trấn cọp beo
Chả phải dân ta mà kính trọng
Gương người trung liệt giúp dân nghèo.
                     Nhân hưng,ngày 31-7-2013
                                 Tạ Anh ngôi