Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Biết ơn


Rừng xanh vẫn còn đó
Bạn nằm yên dưới mồ
Ơi nỗi lòng ai nhớ
Mang bạn vào trang thơ
Hôm nay xa ngày xưa
Mà vẫn còn thổn thức
Trái tim như rạo rực
Chiến thắng nào khát khao
Bạn mất thật rồi sao
Giữa rừng xanh đất mẹ
Gió đưa lời ru nhẹ
Cho ai cùng khóc theo...
Nén nhang không quạnh hiu
Làm ấm hồn chiến sĩ
Vọng thơ đời chung thủy
BIẾT ƠN và mến yêu...

 Hồ Minh Quang

ĐẠI ĐỘI TÔI

        Ngày 26.4.2013- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký quyết định phong tặng Anh hùng LLVTND cho Đại đội 4 xe tăng thuộc Lữ đoàn 203. Vậy là hy vọng của cán bộ- chiến sĩ trong đại đội đã được đáp đền sau 38 năm chờ đợi. Ngày 18.6.2013, lễ đón danh hiệu AH đã được tổ chức trọng thể tại Lữ đoàn 203. Gần 30 anh em lại về gặp mặt. Bên cạnh niềm vui là nỗi niềm bồi hồi thương nhớ đến 9 Liệt sỹ đã hy sinh dọc đường chiến đấu cùng một số anh em khác đã ra đi không thể về chứng kiến phút giây hạnh phúc của đơn vị mình. 


Đại đội xe tăng có mấy người đâu
Cả lính lẫn quan tròm trèm bốn chục
Thêm vài thợ và thông tin khi đi độc lập
Dẫu có đông hơn cũng chẳng quá năm mươi.

Đại đội xe tăng có một dúm người
Mà ở chiến trường thì bao nhiêu cách chết.
Chết bất chợt là B52, pháo kích
Chết đớn đau là cây đổ, xe đè
Chết bi thương là sốt rét mùa mưa
Chết ấm ức bởi dính mìn vướng nổ…
Mỗi cái chết 2 phần trăm quân số
Liệu khi vào chiến dịch có đủ quân?

Đã ngỡ Sông Bồ mãi mãi cầm chân
Hay nằm dí giữa núi rừng A Lưới
Rồi một ngày lệnh trên về tới
Đại đội tôi hối hả lên đường
Lính đang sốt cao bỗng thấy khỏe như thường
Xe có cũ vẫn ngày đêm chạy miết
Lá chắn bùn vừa gò xong lại mất
Bụi mù đường mắt vẫn mở chong chong

Cơn lốc thép tràn qua Núi Nghệ, Núi Bông
Tràn qua Huế ra Thuận An xuống biển
Rồi vượt Hải Vân đỉnh chìm trong mây trắng
Chiếm Đà Nẵng rồi mà vẫn tưởng mơ
Duyên hải miền Trung dài dặc như thơ
Lăn mê mải dưới những băng xích thép
Đích đến là Sài Gòn phía trước
Cánh cửa thép Nước Trong rồi cũng bị xé toang.

Ngày 30 tháng Tư năm Một chín bẩy nhăm
Cánh cổng dinh bị hai xe đại đội tôi húc cho đổ sập
Đại đội trưởng ôm lá cờ cắm lên trên nóc dinh Độc Lập
Báo hiệu phút giây toàn thắng đã về ta

Lịch sử ghi rồi, tiếng tăm mãi bay xa
Đại đội tôi trở nên nổi tiếng
Ai cũng nghĩ Anh hùng là xứng đáng
Nào có ngờ phải đợi ba mươi tám năm sau



Đại đội 4 sau ngày chiến thắng tại TK Long Bình (5.1975)
Ba mươi tám năm bao nước chảy qua cầu
Cái phải đến cuối cùng rồi cũng đến
Danh hiệu Anh hùng? Cũng chẳng có gì quan trọng
Quan trọng hơn là chúng tôi lại được gặp nhau
Vai lại kề vai, đầu lại sát đầu
Lão dân cày bá vai ông giám đốc
Tay lấm bùn trong tay sĩ quan cao cấp
Rưng rung thương những thằng còn nằm lại giữa rừng sâu

Ai đó hỏi một đại đội sao quân số quá lèo tèo?
Đúng vậy đó! Đại đội xe tăng nó thế
Một dúm người thôi nhưng lúc cần có thể
Cũng làm nên cơn động địa, kinh thiên.


Đại đội 4 tại lễ đón danh hiệu Anh hùng
Ngày vui này, đại đội lại điểm danh
Quân số hai đầu âm dương lại xướng lên đầy đủ
Đồng đội ơi! Hãy cùng về gặp gỡ
Dẫu có ở nơi nao thì vẫn đại đội mình.


NKN

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

LỜI CUỐI CHO BẠN CÙNG LỚP




Bình không nói được na ri
mt thi hoa niên chúng mình gìn gi
đói tháng Ba, bom Truông Bn không s
nói mt câu nói đùa li s mếch lòng nhau.


Lp sơ tán ngày nào trong lũy đt
lũ trai nhà quê, con gái th thành
gánh ci núi trên vai Bình xc xếch
mun giúp mà c ái ngi loanh quanh.

Cũng có ba ngó nhau qua vai bn
mt như sương đu lá c tt vèo
con gái nó muôn đi đu ln trước
tóc bím kìa thôi ch biết nhìn theo.

Cái tha y sao tri trong văn vt 
viết bao trang nht kí du chính mình
trong mơ hát cái câu ai đó hát
“mày đi t đâu ti, chú ếch xanh”.

Nay tui sáu mươi mà lòng ta mười sáu
vn mt câu đùa mt câu ướm… ri thôi
mt ln ước cùng nhau v núi cũ
có thếmà đâu được na Bình ơi!
                    
                                                Hà Ni 11/6/2013
*Bn Nguyn Th Thanh Bình lp Văn Khóa 18
Đi hc Tng hp Hà Ni cùng Nguyn Hùng V
và Nguyn Tô Hà, mt ngày 20 tháng 6 năm 2013,
sau Nguyn Hu Trung gn mt tiếng đng h.


TRI ÂN THƯƠNG BINH LIỆT SỸ




Kỷ niệm 66 năm ngày Thương binh-Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2013), TRIANCUOCDOI trân trọng gửi tới các thương bệnh binh, các cựu chiến binh và gia đình các liệt sỹ trong Xóm TRIAN lời chúc sức khỏe và an lành. Chúc các anh chị giữ mãi nhiệt huyết một thời không thể quên, cho mỗi người và cho cả Blog của chúng ta. 

NGÔI ĐỀN THỜ LIỆT SĨ CỔ NHẤT Ở CHÍ LINH



Dân địa phương vẫn gọi là Nghè Cao San. Ngôi nghè thuộc thôn Hòa Bình, xã Cổ Thành, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Dân làng và khách thập phương đến thăm quan dự hội hàng năm vẫn thành kính khói hương nhưng ít ai biết rằng thực chất đây là một ngôi đền thờ liệt sĩ cổ nhất ở Chí Linh
      Dân địa phương thường kể lại truyền thuyết về ngôi nghè ấy, tinh thần tóm tắt như sau: Khi Cao Sơn Đại Vương, cầm quân đi đánh giặc Đông Di (?) đến địa phận thôn Chí Linh, ngài đồn trú ba quân giữa cánh đồng để tuyển thêm quân lính,. Tại bản xá, có hai anh em nhà kia, khôi ngô tuấn tủ, dũng lược hơn người, bèn ra ứng thí. Kết quả là cả hai anh em đều trúng tuyển và được Cao Sơn Đại Vương cử làm tướng tiên phong. Trước khi ra trận, Cao Sơn Đại vương có hỏi nguyện vọng của hai chàng trai, hai chàng thưa rằng: Chúng tôi dốc lòng theo Đại vương giết giặc quyết không sợ hiểm nguy không tiếc máu xương. Nếu chẳng may mà chết chỉ xin với Đại vương được đem thi thể về chôn tại quê nhà.
      Trong trận chiến, hai anh em chàng trai đã chiến đấu vô cùng quả cảm và anh dũng hi sinh. Thể theo nguyện vọng của hai chàng trai, Cao Sơn Đại Vương đã mang thi thể họ về chôn cất tại quê hương.
        Đời sau, dân địa phương mới xây nghè lên trên hai ngôi mộ để thờ cúng tri ân. Trong nghè vẫn thờ ba bài vị: Giữa là bài vị Cao Sơn Đại Vương và hai bên là hai bài vị thờ theo của hai anh em – hai liệt sĩ – tiểu tướng của Cao Sơn Đại Vương. Trước đây, Hàng năm mở hội, dân làng lại ra nghè rước các bài vị về đình làng cúng tế linh đình. Kết thúc hội, làng lại rước trả lại nghè.
       Ngày nay, ngôi nghè đã được dân địa phương nâng cấp thành một ngôi đền khang trang, bề thế và khói hương thành kính quanh năm. Nhưng thiết nghĩ nếu mọi người đều hiểu được về bản chất đây là một ngôi đền thờ liệt sĩ thì ý nghĩa của di tích càng thêm phần văn hóa và thú vị biết bao.

 

Vũ Thị Song Thu
(Bài đã đăng báo Quân khu 3 số tháng 7 năm 2010)

NỖI NIỀM THÁNG BẨY


CỔNG NGHĨA TRANG XÃ NAM-HỒNG
DANH SÁCH CÁC BÀ MẸ VIỆT-NAM ANH HÙNG & LIỆT SỸ CHỐNG PHÁP
DANH SÁCH CÁC LIỆT SĨ CHỐNG MỸ
 PHẦN MỘ EM TÔI - LIỆT SĨ NGUYỄN DUY THÍNH
TU BỔ NGHĨA TRANG LIỆT SĨ xã NAM-HỒNG
CHÙA HÓP-NƠI VẪN TỤNG KINH CHIÊU HỒN LIỆT SĨ

Ngâu sớm




Đêm lạnh se se mùa ngả thu
Mưa ngâu sùi sụt khóc mau thưa
Rơi buồn ả Chức đang Ngân Hán
Đưa tiễn chàng Ngưu sắp cách bờ.
 
Đỗ Đình Tuân-Chí Linh
THÁNG BẨY TA,THÁNG BẨY TÂY
ĐỀU LÀ THÁNG CỦA NHỮNG NGÀY NHỚ,THƯƠNG !

Thanh Dạ Làng Hóp 26-7-2013

CHƯƠNG 2: THỜI SINH VIÊN CỦA CHÚNG MÌNH (Tiếp theo và hết)

Nhớ về sinh hoạt học tập lao động vui nhộn ở nơi sơ tán, dĩ nhiên không thể quên tình yêu của tôi và MQ. Sau khi làm thân, kết thân với nhau, và thừa nhận yêu nhau, chúng tôi hay cùng học thi, rủ nhau đào sắn trên rừng, hái sim trên đồi, đồi cao và xa xa lắm. Tối nào sáng trăng là hai đứa thường hẹn hò nhau leo lên đồi ngay gần chỗ ở, đồi đầy hoa mua tim tím, chọn một chỗ tương đối bằng phẳng. Chúng tôi ôm nhau không biết chán, và hồi hộp nhìn nhau dưới ánh trăng hiền dịu của núi đồi mênh mông, bình lặng. Tóc tôi hồi đó rất dài và dày, tôi gội đầu bồ kết và chanh nên mượt óng. Tôi tựa vào vai MQ mơ màng nhưng MQ thích bế hẳn tôi vào lòng để bạn hôn cơ. Thi thoảng, buổi tối, hai đứa còn lẻn ra ngay sau nhà (là rừng, là đồi sim rồi) để ngồi bên nhau. Chuyện thì chả có gì nhiều, chỉ hôn và đặt tay lên bộ ngực tươi trẻ của bạn gái là MQ giỏi thôi.
                H
àng tháng, tôi được học bổng 17 đồng. Chị Hiền Thục gửi thêm cho tôi 10 đồng nữa. Tiền ăn nộp 18 đồng, còn lại tôi chi dùng cho sách vở, đồ dùng lặt vặt, xà phòng khăn mặt…tạm đủ.
MQ được học bổng 32 đồng,loại cao nhất. Chàng luôn lo lắng thương sót người yêu ít tiền, thi thoảng dúi năm đồng kẹp vào quyển vở trong có cả lá thư tỏ tình hoặc bài thơ gì đó đưa cho tôi. Tôi cảm động vì tấm lòng và sự quan tâm ấy nhưng tôi chỉ nhận thư và trả lại tiền. Tôi ý thức rất rõ là mình không được phụ thuộc và “lợi dụng vật chất” đối với người yêu.
              MQ yêu tôi, bị phân tán tư tưởng nên thi thường bị điểm xoàng xĩnh. Mỗi lần ôn thi, hai đứa lại ra bờ suối truy bài. Tôi luôn tự nhủ phải tập trung học để điểm thi cao hơn khi chưa yêu, như thế không ai nói gì mình được, và tôi đã toại nguyện. Nhưng MQ thì chịu chết, quanh quẩn ngắm nhìn người yêu rồi tuôn ra mấy vần thơ hơn thơ "con cóc" một ít thì không sao học được. Có truy bài thì đến lượt mình, MQ trình bày chẳng ra sao cả. Ngồi học trên lớp, tôi ngồi bàn trên, MQ ngồi bàn dưới. Bằng mọi cách, MQ loay hoay phải chạm tay vào lưng tôi mới yên, thế thì nghe giảng gì chứ? Tôi thích MQ làm thế nhưng sợ bạn bè trông thấy nên lòng dạ thấp thỏm, nghe thầy cũng câu được câu chăng. Về phần mình, từ khi yêu bạn, tôi trở nên dịu dàng hơn, nữ tính hơn. Tôi vá quần áo cho bạn theo kiểu mạng rất tỉ mỉ. Mọi khi tôi khâu vá quần áo của tôi thì mũi chỉ thật to, to y như các mũi khâu của me tôi phô ra trong mấy cái quần si líp của tôi vậy. Bây giờ thì khác, tôi khâu mũi ngắn và cố đều thẳng hàng thẳng lối. Tôi sợ bị bạn chê cười vì miếng vá xấu xí vụng về. Thế mà đâm ra hay! Mỗi lần vá quần áo cho bạn, má tôi lại ửng hồng, phần vì trời mùa đông rét mướt mải tập trung nên máu dồn lên mặt, phần vì ngượng ngùng xấu hổ khi biết bạn đang nhìn tôi chăm chú nếu không nói là chằm chặp, vì bất chợt mỗi khi tôi nhìn trộm bạn đều bắt gặp ánh mắt thật đặc biệt. MQ có đôi mắt to đen và trong sáng, bình thường thì đó là đôi mắt ngây thơ, nhưng khi yêu rồi thì đó là đôi mắt hiền dịu mà tươi vui đầy sức sống, chứa chan hy vọng và nồng nàn say đắm của một chàng trai mới lớn trong tình yêu đầu tiên.
            Suốt mấy năm học sơ tán, mặc dù sống thiếu thốn vất vả nhưng tôi vẫn lớn lên, khỏe mạnh và học giỏi hơn, điểm thi cao ngất ngưởng ít nhất là hơn hẳn MQ. Nhưng thực chất, tôi nghĩ MQ học chắc hơn tôi, sâu sắc hơn tôi. Tôi chỉ nhanh nhanh thôi, mà hời hợt. Môn vật lí cũng vậy, tôi học ào ào nhưng có bao giờ mắc được mạch điện nào đâu, cũng chả giải thích được bao nhiêu hiện tượng trong thực tế. Từ năm thứ ba, chúng tôi phân ban. Tôi ở ban Phương pháp tính, còn MQ ở  ban Vận trù học. Khi làm luận văn tốt nghiệp, MQ về Hà Nội, còn tôi vẫn ở khu sơ tán. Thầy Phan Văn Hạp hướng dẫn tôi cả khóa luận năm thứ ba và luận án tốt nghiệp năm thứ tư. Luận án của tôi có nội dung giải gần đúng một phương trình đạo hàm riêng, mà muốn dùng phương pháp giải xấp xỉ (đưa về hệ phương trình tuyến tính) thì trước hết phải tìm ra một hàm số là nhân của phương trình tích phân, nếu không tìm ra thì chẳng thể viết được tí gì cho luận văn cả. Tôi đã làm việc đó trong một tâm trạng hết sức lo âu. Tôi vừa nhớ bạn ở xa, vừa lo nghĩ ra cái hàm số chết tiệt đó. Hàng ngày tôi dạo một mình lang thang qua các quả đồi đầy hoa sim và hoa mua tím đỏ rực rỡ, mà lòng buồn vô hạn. Nhìn chung quanh, và cả MQ nữa qua thư từ, mọi người đang viết mỗi ngày một ít trang, trong khi luận văn của mình trắng tinh tôi sốt ruột lắm. Nhưng rồi chắc Trời thương, nên bỗng nhiên sau bẩy ngày trắc trở, một hàm số vụt đến với tôi khá đơn giản. Tôi thử một số Test thấy phù hợp, thế là tôi thực sự bắt tay vào công trình đầy lý sự và những con tính. Tôi mải mê đọc tài liệu tham khảo, rồi viết luận văn một mạch trong một tuần nữa là xong. Thế là tôi lại được chơi, trong khi các bạn vẫn loay hoay viết. Thật là hú vía. Kết quả vui lắm, khi ra hội đồng bảo vệ, tôi được điểm 5 tròn trĩnh, điểm cao tuyệt đối thời bấy giờ, mặc dù có hai thầy trong hội đồng "vặn" tôi đủ thứ. MQ làm luận văn ở Hà Nội, ngày ngày gửi thư lên cho tôi. Tôi nhớ bạn quá mà chẳng làm thế nào được. Luận văn thì làm xong rồi. Tôi cứ đi chơi tha thẩn một mình, tôi có ngồi viết thư cho bạn nhưng làm sao hết được thời gian.
             Nhanh quá mất thôi, một năm học ở Hà Nội với ba năm sơ tán vụt trôi đi. Chúng tôi thi tốt nghiệp, bảo vệ luận văn, rồi ra trường, ngày
20/8/1968.
. Ai về quê người ấy. Riêng hai chúng tôi ở lại núi rừng Thái Nguyên một đêm rồi hôm sau mới về Hà Nội. Đêm ấy, chúng tôi nằm bên nhau trên cùng một giường, trong cùng một phòng. Chẳng có ai khác cả. Chỉ có tiếng côn trùng, và tiếng xào xạc của lá. Chúng tôi yêu nhau nhưng không đi quá giới hạn. Sau này, chồng tôi bảo anh tiếc quá sao đêm ấy không “mạnh dạn” lên. Tôi thì cười và bảo nếu anh có gì mạnh dạn quá là tôi sẽ bỏ anh ngay, tôi không chấp nhận “ăn cơm trước kẻng” như một số người hay mắc. “ Nam nữ thụ thụ bất thân” mà, chúng tôi nằm bên nhau và thi thoảng không kiềm chế được, MQ còn nằm lên người tôi mấy phút thế là ghê gớm lắm rồi còn gì nữa.
             Chúng tôi đi bộ, đi ô tô để ra Thái Nguyên và từ đó đi tàu đêm về Hà Nội. Có đoạn phải lội qua suối nước quá đầu gối. Tầu cứng chặt như nêm, chúng tôi khó khăn lắm mới chạm được vào nhau và chỉ nhìn nhau không biết chán. Về đến nhà là trời sáng. Hai đứa về tạm nhà tôi, sau đó MQ mới về với má ở tận Hải Dương. Me tôi thấy hai đứa đi đêm về với nhau sau cả một hành trình dài, có vẻ không thú vị gì. Vốn bà đã không muốn chúng tôi thân nhau, yêu nhau thì càng quá thể lắm. Từ lâu nay rồi, me tôi và nói chung cả nhà không thích tôi thân với MQ. Chỉ có chị Hiền Thục ủng hộ, vì chị dạy Toán ở Đại học Nông nghiệp I, chị rất thân với học sinh miền Nam, nay thấy em mình thân với MQ cũng là học sinh miền Nam, nên chị rất vui. Bố tôi thì không ngăn cản thô như me, nhưng có một lần đã nói chuyện với tôi và bảo: “Bố nghĩ rằng con còn trẻ lắm, ra trường rồi con đi làm, con có thể gặp một người đàn ông lớn hơn hẳn con, lại có địa vị nữa. Nếu con yêu và lấy người ta con sẽ đựợc sung sướng hạnh phúc hơn. Trong gia đình, đàn ông phải là trụ cột để người vợ dựa vào. Chứ con yêu bạn bè cùng lứa, trình độ không hơn con, quê ở quá xa, thì không thuận đâu. Con nên suy nghĩ kỹ đi.” Tôi không dám nói gì chỉ im lặng. Thật ra tôi biết, bố tôi còn không thích tôi yêu và lấy MQ vì bạn là con của một gia đình cách mạng tập kết ra Bắc. Bố tôi sợ hai gia đình không hợp nhau, ông luôn có mặc cảm và một chút bất ổn về tinh thần sau những gì xảy ra ở quê với gia đình tôi. Nhưng mãi sau này, khi biết rằng ba má MQ đều là con nhà nho, gia đình giầu có, hiến hết bao nhiêu ruộng vườn trâu bò, bố tôi mới nguôi đi phần nào. Mà cái chính là tôi vẫn một mực kết thân và yêu MQ, thành ra cuối cùng gia đình đã chiều theo. Bố tôi còn đi xem tử vi cho hai đứa. Ông thầy tử vi bảo rằng, chúng tôi xung tuổi nhau. Nếu thành vợ chồng, không hòa hợp mà cãi nhau liên miên thì còn tạm sống được, bằng không rủi hai đứa yêu nhau thắm thiết thì tôi sẽ khổ, giữa đường đứt gánh, nghĩa là chồng tôi chết sớm, bỏ tôi một mình góa bụa. Ôi cái số tử vi sao mà ghê gớm. Bố tôi nhờ xem xong, suy tư và yên lặng. Bố tôi không dám nói cho tôi nghe, sợ rằng tôi khó sống yên bình. Tôi không bỏ MQ, nhưng cả đời lo lắng day dứt hoài vì những lời tiên tri ấy. Thành ra bố chỉ nói riêng với chị Thùy Trinh và yêu cầu giữ bí mật về chuyện này. Về sau, khi chồng tôi mất rồi, chị mới kể lại cho tôi chuyện tử vi đó. Tôi đau đớn nhưng thầm cảm ơn bố tôi, người cha rất mực tinh tế, tuy con gái lấy chồng mình không ưng ý- nhưng một khi đã cảm nhận đựơc tình yêu và sự gắn bó của chúng- thì vẫn tôn trọng các con và giải thích rằng đó là số phận, là định mệnh của mỗi con người.

              
             Trích từ hồi kí NƯỚC MẮT VÀ NỤ CƯỜI
                                   Bùi Thị Kim Thư
                                    ( Hết chương 2)