Hiển thị các bài đăng có nhãn DICH THƠ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DICH THƠ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 119



Bài 119
Hoàng Châu trúc lâu
 
黃州竹樓
Hoàng Châu trúc lâu
合圍巨竹遍郊衢,
Hợp vi cự trúc biến giao cù,
曾有前人建此樓。
Tằng hữu tiền nhân 1 kiến thử lâu.
舊址何時成白地,
Cựu chỉ hà thì thành bạch địa,
遺文從古記黃州。
Di văn 2 tòng cổ ký Hoàng Châu
後人徒有千年感,
Hậu nhân đồ hữu thiên niên cảm,
當日曾無隔歲謀。
Đương nhật tằng vô cách tuế mưu 3.
惟有長江巧收拾,
Duy hữu Trường giang xảo thu thập,
一成一毀盡東流。
Nhất thành nhất huý tẫn đông lưu.
Dịch thơ: Lầu trúc ở Hoàng Châu

Vòng quanh trúc lớn mọc chen nhau
Từng có người xưa dựng trúc lầu
Nền cũ ngày nào thành đất trắng
Văn xưa còn chép rõ Hoàng Châu
Người sau cảm chuyện nghìn năm trước
Giờ có người nào tính kế sau
Chỉ có Trường Giang là khéo nhặt
Cái thành cái hủy cuốn dòng sâu.

                                  Đỗ Đình Tuân
                                                    (dịch thơ)
Chú thích:
*Hoàng Châu: tên đất, nay là huyện Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc.
1. Người thời trước, chỉ ông Vương Vũ Xứng, nhà thơ đời Tống, khi bị trích ở Hoàng Châu, có làm cái lầu bằng trúc tại đây và làm bài thơ nhan đề là Hoàng Châu trúc lâu ký.
2. Chỉ bài văn của Vương Vũ Xứng.
3. Tính việc năm sau. Trong bài ký trên, tác giả có nói "Trong bốn năm phải bôn tẩu không nghỉ, chưa biết sang năm lại đi nơi nào, há sợ lầu trúc này dễ hỏng nát sao ?".
30/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 96


Bài 96

Dự Nhượng kiều chuỷ thủ hành
豫讓橋匕首行
Dự Nhượng kiều chuỷ thủ hành
晉陽城外滔滔水
Tấn Dương 1 thành ngoại thao thao thuỷ
智伯漆頭為溺器
Trí Bá 2 tất đầu vi niệu khí
無人報仇誠可悲
Vô nhân báo cừu thành khả bi
其臣豫讓身當之
Kì thần Dự Nhượng thân đương chi
漆身為癩剔鬚眉
Tất thân vi lại dịch tu mi
當道乞食妻不知
Đương đạo khất thực thê bất tri
身挾匕首伏橋下
Thân hiệp chuỷ thủ phục kiều hạ
怒視仇腹甘如飴
Nộ thị cừu phúc cam như di
殺氣凜凜不可近
Sát khí lẫm lẫm bất khả cận
白日無光霜雪飛
Bạch nhật vô quang sương tuyết phi
再擭再舍心不移
Tái hoạch tái xả tâm bất di
臨死猶能三擊衣
Lâm tử do năng tam kích y
凌凌奇氣千霄上
Lăng lăng kì khí thiên tiêu thượng
自此橋名更豫讓
Tự thử kiều danh canh Dự Nhượng
君臣大義最分明
Quân thần đại nghĩa tối phân minh
國士眾人各易尙
Quốc sĩ  3 chúng nhân các dị thượng
愧剎人臣懷二心
Quý sát nhân thần hoài nhị tâm
千古聞之色惆悵
Thiên cổ văn chi sắc trù trướng
不是荊軻聶政徒
Bất thị Kinh Kha 4 Nhiếp Chính 5 đồ
甘人豢養輕其軀
Cam nhân hoạn dưỡng khinh kì khu
血氣之勇不足道
Huyết khí chi dũng bất túc đạo
君獨錚錚鐵丈夫
Quân độc tranh tranh thiết trượng phu
路經三晉皆丘土
Lộ kinh Tam Tấn 6 giai khâu thổ
注目橋邊如有睹
Chú mục kiều biên như hữu đổ
西風凄凄寒逼人
Tây phong thê thê hàn bức nhân
征馬頻頻驚失路
Chinh mã tần tần kinh thất lộ
匕首當時七寸長
Chuỷ thủ đương thì thất thốn trường
獨有萬丈光茫亙今古
Độc hữu vạn trượng quang mang cắng kim cổ.
Dịch nghĩa: Bài hành về chiếc gươm ngắn của Dự Nhượng
 
Ngoài thành Tấn Dương nước chảy cuồn cuộn
Đầu Trí Bá bị bôi sơn làm chậu đựng nước tiểu
Không ai báo thù, thật đáng thương
Bề tôi là Dự Nhượng đem thân gánh vác việc ấy
Sơn mình làm người hủi, cạo râu mày
Giữa đường ăn xin mà vợ không nhận ra
Mình mang gươm ngắn nấp dưới cầu
Giận nhìn bụng kẻ thù (muốn đâm) ngon như ăn đường
Đằng đằng sát khí không ai dám lại gần
Giữa ban ngày mà như không có ánh sáng, như có sương tuyết bay
Bị bắt, được tha, lại bị bắt, lại được tha mấy lần, lòng không đổi
Đến lúc chết còn đánh được ba lần vào áo Tương Tử
Khí lạ cao ngất ngút tận trời cao
Từ đó cầu mang tên cầu Dự Nhượng
Nghĩa lớn vua tôi cực rõ ràng
Giữa kẻ quốc sĩ và người thường, cách đối sử khác nhau
Bề tôi mà hai lòng thật đáng hổ thẹn đến chết
Nghìn xưa nghe chuyện ai cũng ngậm ngùi
Không như Kinh Kha, Nhiếp Chính
Cam chịu để cho người nuôi dưỡng mà coi nhẹ thân mình
Cái dũng khí của máu huyết họ không phải nói nhiều
Riêng có ông (Dự Nhượng) là bậc trượng phu cứng cỏi như thép
Đường qua Tam Tấn đều là gò bãi
Chăm chú nhìn bên cầu dường như có bóng ông
Gió tây lạnh buốt tê cóng người
Ngựa chiến nhiều lần hí lên sợ lạc đường
Chiếc gươm ngắn thời đó dài bảy tấc
Riêng có tia sáng dài muôn trượng rọi thấu cổ kim.

Dịch thơ: Bài hành về chiếc gươm ngắn của Dự Nhượng

Ngoài thành Tấn Dương nước cuộn chảy
Đầu Trí bá sơn đựng nước giải
Không kẻ báo thù thật đáng thương
Bề tôi Dự Nhượng thân vậy đấy
Bôi trát thân mình khác tóc râu
Giữa đường xin ăn vợ không biết
Mình dắt dao găm phục dưới cầu
Nhìn thấy kẻ thù giận muốn nuốt
Đắng đắng sát khí ai cũng hốt
Đầy trời mù mịt sương tuyết bay
Bắt đi bắt lại lòng vẫn quyết
Ba lần đánh áo mới chịu chết
Khí lạ hướng trời cao bay vút
Dự Nhượng từ đó thành tên cầu
Nghĩa lớn vua tôi càng trong suốt
Quốc sĩ, người thường vốn khác nhau
Bề tôi hai lòng thẹn đến chết
Nghe chuyện nghìn xưa lòng ngậm ngùi
Không như Kinh Kha và Nhiếp Chính
Cam nhận người nuôi nhẹ thân mình
Máu huyết dũng khí ai dám sánh
Trượng phu Dự Nhượng thật khác thường
Đường qua Tam Tần toàn gò bãi
Dường như bên cầu có bóng ông
Gió tây lạnh buốt người tê cóng
Ngựa chiến nhiều phen hãi lạc đường
Bẩy tấc ngày xưa chiếc gươm ngắn
Muôn trượng tia sáng soi cổ kim.

                            Đỗ Đình Tuân
                                (dịch thơ)

Chú thích:
*Dự Nhượng: Dự Nhượng 豫讓, theo Sử ký Tư Mã Thiên , người nước Tấn, là bầy tôi Trí Bá 智伯, được Trí Bá rất kính yêu. Trí Bá đánh thua Triệu Tương Tử 趙襄子, bị Tương Tử cho sơn xương sọ dùng làm tô đựng rượu (có thuyết nói dùng đựng nước tiểu). Dự Nhượng hết lòng rửa nhục cho Trí Bá. Có lần giả làm tù nhân vào cung sửa nhà xí, dắt sẵn cây chuỷ thủ, định giết Tương Tử, không thành công. Tương Tử tha cho, coi Dự Nhượng là người hiền trong thiên hạ. Ít lâu sau, Dự Nhượng bôi sơn vào mình, làm như người hủi, nuốt than cho mất tiếng. Ăn mày ở chợ, mà vợ không nhận ra. Có người bạn nhận ra, khóc nói: "Có tài như anh, kiếm cách mua chuộc về thờ Tương Tử, tất được thân yêu. Bấy giờ thực hành ý muốn, há chẳng dễ ư ?". Dự Nhượng đáp: "Đã đem thân về thờ người ta, mà lại chực giết, như thế là nhị tâm.Tôi làm như vậy là để cho thiên hạ đời sau kẻ nào làm tôi mà thờ chủ không một dạ coi đấy mà xấu hổ". Dự Nhượng nấp dưới một cây cầu, chờ giết Tương Tử. Lại thất bại, trước khi kề gươm vào cổ tự vẫn, Dự Nhượng xin đâm ba lần vào áo Tương Tử để bầy tỏ ý chí báo thù. Được tin, các chí sĩ nước Triệu đều sa lệ. (Sử ký Tư Mã Thiên, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Lá Bối xuất bản, Saigon, Việt nam, 1972, trang 520-524).
1.Tấn Dương:  Đất Chu Thành Vương 周成王 phong cho em, sau đổi thành nước Tấn (nay thuộc tỉnh Sơn Tây 山西).
2.Trí Bá:  Tức Trí Dao, một trong sáu quan khanh của nước Tấn, thời Tấn Xuất Công.
3. Quốc sĩ:  Dự Nhượng nói với Tương Tử 襄子: "Tôi đã làm tôi cho họ Phạm 范 và họ Trung Hàng 中行. Họ Phạm và họ Trung Hàng đãi tôi như người thường nên tôi báo đáp theo lối thường. Trí Bá đãi tôi như quốc sĩ nên tôi báo đáp theo tư cách quốc sĩ"
4.Kinh Kha:  Là thích khách giúp Thái Tử Đan 丹 nước Yên 燕 giết Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇 nhưng không thành công.
5. Nhiếp Chính:  Là thích khách giúp Nghiêm Trọng Tử 嚴仲子 nước Tề giết tể tướng nước Hàn 韓 là Hiệp Luỹ 俠累.
6 Tam Tấn:. Ba nước Triệu, Hàn, Ngụy.
25/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 85






Bài 85
Tần Cối tượng kỳ 2
秦檜像其二
Tần Cối tượng kỳ 2
格天閣毀玉樓殘
Cách Thiên các 1 hủy ngọc lâu tàn
猶有頑皮在此間
Do hữu ngoan bì tại thử gian
一世死心懷大毒
Nhất thế tử tâm hoài đại độc
千年生鐵負奇冤
Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan
獄中已濺生前血
Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết
階下徒誅死後奸
Giai hạ đồ tru tử hậu gian
得與忠臣同不朽
Đắc dữ trung thần đồng bất hủ
齊天奇福太無端
Tề thiên kỳ phúc thái vô đoan
Dịch nghĩa: Tượng Tần Cối (kỳ II)
Gác Cách Thiên đổ nát, lầu ngọc tan hoang
Vẫn còn tên gian ngu bướng càn rở ở đây
Cả một đời trái tim chết chứa nọc độc
Nghìn năm cục sắt sống mang nỗi oan kì lạ
Trong ngục (kẻ trung thần) khi sống đã đổ máu
Dưới thềm hành tội tên gian ác đã chết rồi
Được với bậc trung thần cùng bất hủ
Cái phúc lạ tày trời đó thật oái ăm vô lí
Dịch thơ: Tượng Tần Cối (kỳ II)


Cách Thiên gác đổ  ngọc lầu tan

Còn lại tên gian bướng lại càn

Tim chứa suốt đời mang nọc độc

Nghìn năm cục sắt nhục không oan

Trung thần khi sống  ôm bao hận

Loạn tặc dưới thềm chết chẳng an

Sánh với trung thần cùng bất hủ

Phúc này có một cõi nhân gian.

                             Đỗ Đình Tuân

                               (dịch thơ)
Chú thích:
* Tần Cối: Xem Tần Cối tượng kỳ 1.
1.Tần Cối ở gác Cách Thiên, do câu "Nhất đức cách thiên" 一德格天 (Đức cảm được lòng trời) của vua Tống Huy Tông đề.
22/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 24







Bài 24
Thương Ngô tức sự
蒼梧即事
Thương Ngô tức sự
虞帝南巡更不還,
Ngu đế 1 nam tuần cánh bất hoàn,
二妃洒淚竹成班。
Nhị phi 2 sái lệ trúc thành ban
悠悠陳跡千年上,
Du du trần tích thiên niên thượng,
歷歷群書一望間。
Lịch lịch quần thư nhất vọng gian.
新潦初添三尺水,
Tân lạo sơ thiêm tam xích thuỷ,
浮雲不辨九疑山。
Phù vân bất biện Cửu Nghi 3 san
尋聲遙謝琵琶語,
Tầm thanh dao tạ tỳ bà ngữ 4.
千里青山不耐旋。
Thiên lý thanh sam bất nại hàn.
Dịch nghĩa: Tức sự ở Thương Ngô
Vua Ngu đi tuần phương nam chẳng trở về.
Hai bà phi khóc, nước mắt vương vào cây trúc thành những vệt lốm đốm.
Xa xăm dấu cũ nghìn năm trước
Vẫn còn nhìn thấy rõ ràng trong sử sách.
Nước lũ mới đổ về cao hơn ba thước.
Mây che khuất không nhìn rõ núi Cửu Nghi.
Nghe vẳng tiếng tỳ bà nhưng phải từ tạ.
Kẻ mặc áo xanh này từ nghìn dậm đến, không chịu lạnh nổi.
Dịch thơ: Tức sự ở Thương Ngô
Vua Thuấn tuần du chẳng trở về
Trúc còn lốm đốm lệ hai phi
Xa xăm dấu cũ nghìn năm trước
Còn thấy rõ ràng sử sách ghi
Dòng lũ mới thêm ba thước nước
Cửu Nghi mờ mịt đám mây che
Tỳ bà vẳng tiếng đành từ tạ
Sợ lạnh xứ này chẳng dám đi.
                          Đỗ Đình Tuân
                             (dịch thơ)
Chú thích:

Thương Ngô: tên núi, tức là núi Cửu Nghi. Sử chép, xưa vua Thuấn đi tuần phương nam, mất ở Thương Ngô rồi chôn ở đó.
1. Vua nước Ngu, tức vua Thuấn.
2. Chỉ hai bà phi của vua Thuấn, tức Nga Hoàng và Nữ Anh. Vua Thuấn đi tuần phương nam, chết ở Thương Ngô. Hai phi đi tìm, khóc nước mắt nhỏ xuống những cây trúc thành vết lốm đốm và tự trầm chết theo bên dòng sông Tương.
3. Núi có chín ngọn giống nhau, khó phân biệt nên đặt tên ra thế.
4. Lấy ý từ bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị. Trong Tỳ bà hành có câu: "Giang châu tư mã thanh sam thấp" (Quan Tư mã châu Giang khóc ướt vạt tràng áo xanh), Nguyễn Du dịch là: "Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng, Giọt châu tầm tã, đẫm tràng áo xanh".
5/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 20






Bài 20
Thái Bình thành hạ văn xuy địch
太平城下聞吹笛
Thái Bình thành hạ văn xuy địch
太平城外西風起,
Thái Bình thành ngoại tây phong khởi,
吹皺寧明一江水。
Xuy trừu Ninh Minh nhất giang thuỷ.
江水皺兮江月寒,
Giang thuỷ trừu hề giang nguyệt hàn,
誰家橫笛憑欄杆。
Thuỳ gia hoành địch bằng lan can.
二十七人共回首,
Nhị thập thất nhân cộng hồi thủ,
故鄉已隔萬重山。
Cố hương dĩ cách vạn trùng san.
Dịch nghĩa: Nghe  tiếng sáo thổi ngoài thành Thái Bình
Ngoài thành Thái Bình gió tây thổi lên
Làm cho nước sông Ninh Minh gợn sóng
Nước sông gợn sóng, trăng sông lạnh
Có người nào tựa lan can thổi sáo
Khiến cho hai mươi bảy người trong đoàn đều quay lại nhìn
Nhưng cố hương đã cách muôn trùng núi non!



Dịch thơ: Nghe sáo thổi ngoài thành Thái Bình


Gió tây ngoài thành Thái Bình

Thồi theo dòng nước Ninh Minh xuôi tràn

Nước sông lạnh sóng trăng tan

Sáo ai tựa dãy lan can bên lầu

Khiến ai cũng phải quay đầu

Cố hương như bỗng nhuộm sầu núi non.

                                      Đỗ Đình Tuân

                                         (dịch thơ)

2/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Dịch thơ Nguyễn Du 52






Bài 51
Đại tác cửu thú tư quy (II)
代作久戍思歸
Đại tác cửu thú tư quy
千仞橫山一帯河
Thiên nhận Hoành Sơn nhất đái hà
白雲回首隔天涯
Bạch vân hồi thủ cách thiên nha
新秋氣候催寒杵
Tân thu khí hậu thôi hàn chử
故國關山寄夜笳
Cố quốc quan sơn ký dạ già
天地一身忠易孝
Thiên địa nhất thân trung dịch hiếu
風塵萬里國忘家
Phong trần vạn lý quốc vong gia
月中橫笛太無賴
Nguyệt trung hoành địch thái vô lại
半夜江城吹落花
Bán dạ giang thành xuy Lạc Hoa
Dịch nghĩa:Làm thay người lính thú lâu năm mong về (II)
Dãy Hoành Sơn cao ngàn thước và một dải sông.
Quay lại nhìn vầng mây trắng cách xa ở chân trời.
Mùa thu mới về với khí hậu lạnh lẽo như thúc dục việc lấy chày nện vải.
Nơi chốn cửa ải, núi non xa xôi nhớ về quê nhà gửi vào tiếng kèn lá lúc đêm hôm.
Một thân trong trời đất phải lấy chữ trung thay cho tấm lòng hiếu thảo.
Vì nước phải vào chốn gió bụi muôn trùng quên đi chuyện nhà.
Giữa ánh trăng nâng chiếc sáo nằm ngang không mong chờ điều tốt đẹp nào cả.
Nửa đêm nơi thành lũy bên sông thổi khúc sáo “Hoa mai rơi” não nùng.
Dịch thơ: Thay lời người lính thú
Nghìn thước Hoành Sơn một dải sông
Xa xa mây trắng cuối trời cùng
Hơi thu se lạnh rộn chày vải
Kèn lá ải đêm gửi tấc lòng
Một tấm lòng trung thay đạo hiếu
Dấn thân vì nước cách muôn trùng
Đêm trăng cây sáo nằm ngang miệng
Thổi khúc hoa rơi thật não nùng.
                           Đỗ Đình Tuân
                              (dịch thơ)
Chú thích:
               

 
nhận:
đơn vị đo lường đời nhà Chu (T.H) (tám thước bằng một nhận tương đương 6,8m bây giờ).
chử:
chày nện vải để giặt giũ cho sạch hoặc nện vào đay gai cho tơ ra để dệt vải.
 
quan sơn:
cửa ải biên giới và núi non. Đây chỉ vùng núi non biên giới cách trở xa xôi.
 già:
loại kèn thổi bằng cách lấy lá cuộn lại.
 
trung hiếu:
trung là đạo thờ vua, còn hiếu là đạo thờ cha kính mẹ. Đây là hai mục tiêu hàng đầu của đạo làm người (“Trai thì trung hiếu làm đầu” Lục Vân Tiên-Nguyễn Đình Chiểu) theo qua niệm thời trước.
 
 thái:
to lớn, rất lớn, quá cỡ…
 
vô lại:
kẻ ác, kẻ không ra gì, kẻ gian dối; không nơi nương nhờ, không có điều tốt đẹp (thái vô lại: không có điều tốt đẹp lớn lao).
 
Lạc Hoa:
khúc sáo có tên đầy đủ là “Mai hoa lạc” hoặc “Lạc mai hoa” âm điệu buồn bã da diết của những người đi thú hoặc khách đi xa hay thổi.
9/6/014
Đỗ Đình Tuân