Hiển thị các bài đăng có nhãn ST GIỚI THIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ST GIỚI THIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ PHẠM NGỌC CẢNH

Đại tá, nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, sinh năm 1934 tại thành phố Hà Tĩnh, công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, đã qua đời ngày hôm nay (21-10). Vĩnh biệt nhà thơ, chia buồn với gia quyến, chúng ta cùng đọc lại một trong những bài thơ hay nhất của ông:

LÝ NGỰA Ô GIỮA HAI VÙNG ĐẤT

Anh lớn lên vó ngựa cuốn về đâu
gặp câu hát bền lòng rong ruổi mãi
đường đánh giặc trẩy xuôi về bến bãi
Lý ngựa ô em hát đợi bên cầu


Hoá vô tận bao điều mơ tưởng ấy
bao câu hát ông cha mình gởi lại
sao em thương câu lý ngựa ô này
sao anh nghe đến lần nào cũng vậy
sao chỉ thấy riêng mình em đứng đấy
chỉ riêng mình em hát với anh đây.

Làng anh ở ven sông
sắp vào tháng tư
mắt tình tứ rủ nhau về hội Gióng
mùi hương xông nụ cười lên nhẹ bổng
ai chẳng ngở mình đang đi trong mây
ai chẳng tin mình đang rong ngựa săt
cả một vùng sông ai chẳng hát
sao không nghe câu lý ngựa ô này.

Thế mà bên em móng ngựa gõ mê say
qua phá rộng duềnh doàng lên dợn sóng
qua truông rậm
đến bây giờ anh buộc võng
gặp mối dây buộc ngựa gỗc lim già
suốt miền Trung sông suối dày tơ nhện
suốt miền Trung núi choài ra biển
nên gập gềnh câu lý ngựa ô qua.

Anh đa tình nên cứ muốn lần theo
xấu hổ gì đâu mà anh giấu giếm
đêm đánh giặc mịt mù cao điểm
vạch lá rừng nhìn xuống quê em
mặt đất ra sao mà thúc vào điệu lý
khuôn mặt ra sao mà suốt thời chống Mỹ
lý ngựa ô hát đến mê người
mỗi bước mõi bồn chồn về đó em ơi.

Hay vì làng anh ở ven sông
những năm gần đây tháng tư vào hội Gióng
đã hát quen lý ngựa ô rồi
khen câu miền Trung qua truông dài phá rộng
móng gõ mặt thời gian gõ trống
khen câu miền Nam như giục như mời
ngựa tung bờm bay qua biển lúa
ngựa ghìm cương nơi sông xoè chín cửa
tiếng hí chào xa khơi...
hay em biết quê anh ngoài đó
câu hát bắc cầu qua một thời quan họ
câu hát xui nhau nên vợ nên chồng
lý ngựa ô này hát theo đường đánh giặc
có điều gì như thể ẩn vào trong?

Em muốn về hội Gióng với anh không
để anh khoe với họ hàng câu lý ấy
em muốn làm dâu thì em ở lại
lý ngựa ô xin cưới sắp về rồi
đồng đội của anh đã chọn mùa thắng giặc
cũng sắp về chia vui.

2/1976

Nguồn: Tuyển tập thơ "Tình bạn tình yêu" xuất bản 1987

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

TẤM LÒNG NGƯỜI MẸ

                                                                                                                                                                                                                                       
Cũng như bao người khác có được tình yêu thương vô bờ của mẹ. Riêng tôi thì có lẽ hạnh phúc đó được nhân đôi vì có cả tình thương của hai mẹ. Hai mẹ đều sống chung dưới một mái nhà, yêu thương nhau như hai chị em, đó là người mẹ sinh ra tôi và người nuôi dưỡng tôi. Ở đây tôi muốn nói là người mẹ đã ngày đêm cùng nuôi dưỡng mình đó là người mẹ cả.

Mặc dù mẹ là một phụ nữ kém may mắn hơn những người phụ nữ khác, bao nhiêu lần sinh nở đều không thành và mất đi cái thiên chức được sinh con. Bù lại đó là có chúng tôi, những người con của chồng, mẹ đã giành cho chúng tôi tình yêu thương sâu nặng tựa như tình mẫu tử thiêng liêng như chính con mình sinh ra.

Tôi nhớ nhất một kỷ niệm thời còn nhỏ đã in sâu vào tâm trí tôi, đó là lần đùa nghịch không may bị ngã. Mẹ đã nhào ra ôm tôi vào lòng và đưa tôi đến nhà thương, chân tôi bị gãy và đã được bác sĩ bó bột. Suốt đêm, bà vẫn nắm tay tôi có lẽ là thức trắng, mỗi khi tôi mở mắt cũng thấy mẹ khóc thút thít. Lúc bấy giờ tôi còn quá nhỏ, không cảm nhận được những giọt nước mắt của mẹ mang ý nghĩa gì. Nhưng giờ đây theo dòng thời gian mẹ đã hy sinh chăm chút cuộc sống cho tôi trưởng thành được làm vợ, làm mẹ tôi mới hiểu được hết ý nghĩa những giọt nước mắt của mẹ ngày ấy, tình cảm đó làm tôi kính yêu mẹ hơn. Bởi vậy tôi rất kính trọng và yêu thương hai mẹ như nhau không hề phân biệt về người sinh ra hay người nuôi dưỡng, vì hai mẹ đều chăm sóc và nuôi dưỡng tôi trưởng thành, tình thương ấy rất cao cả không gì bù đắp nổi.

Không may mẹ cả tôi ngã bệnh nặng, liệt nửa người không đi lại được nhưng có chúng tôi chăm sóc, an ủi làm cho mẹ vơi đi phần nào do căn bệnh tai biến hành hạ. Mẹ rất vui lòng vì có mẹ đẻ và chúng tôi ở bên cạnh. Mấy năm liền, mẹ đã thường nói với chúng tôi: Mẹ rất mãn nguyện trước tấm lòng của các con đối xử với mẹ như chính mẹ ruột mình.

Cả hai mẹ của tôi đã về cõi vĩnh hằng nhưng tình cảm đó không bao giờ tôi quên được. Đến ngày giỗ mẹ, tôi lại hồi tưởng những hình ảnh rất đỗi gần gũi thân thương của mẹ lại hiện lên như đang nở nụ cười rạng rỡ khi tôi chập chững tập đi. Nếu như có phép màu cho tôi điều ước, thì mẹ ơi con vẫn làm con của mẹ, mẹ nhé.

Đến ngày lễ báo hiếu Vu lan, các anh, các chị còn mẹ sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo và các anh, các chị sẽ tự hào được còn mẹ. Còn tôi nhìn lại bông hoa hồng trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân vì không còn được chăm sóc phụng dưỡng mẹ thường ngày nữa. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Vì vậy, khi các anh, các chị đi làm về ngồi bên mẹ, với một nụ cười trên môi và cầm tay mẹ sẽ hỏi một câu: “ Mẹ ơi, mẹ có biết hay không”. Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên nhìn các anh, chị vừa cười vừa hỏi “Biết gì”. Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trên môi, các anh chị nói tiếp: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Mẹ và các anh, chị sẽ sung sướng. Và ngày mai mất mẹ, các anh, chị sẽ không hối hận, đau lòng.

Đó là điệp khúc của ca khúc “Bông hồng cài áo” tôi muốn ca lên cho các anh, các chị nghe trong những ngày dành riêng cho Phụ nữ Việt Nam của chúng ta. 

NGỌC TÚ
PCT. LĐLĐ tỉnh Phú Yên

 Minh Hương được gặp Ngọc Tú tại buổi sinh hoạt truyền thống của Nữ bộ đội Trường Sơn Phú Yên nhân ngày 20/10. Không biết là ấn tượng về bài hát "Bông hồng cài áo" do Ngọc Tú trình bày tại buổi gặp mặt, hay vì cảm thấy mến cái vẻ hiền dịu của Ngọc Tú mà MH đã bắt chuyện rất nhanh. có vẻ rất hợp chuyện nên chỉ qua vài câu tâm sự, Ngọc Tú đã thủ thỉ kể rất say sưa về chuyện hai người mẹ của mình. Rồi cuối cùng, Ngọc Tú rút từ trong cặp ra bài viết TẤM LÒNG NGƯỜI MẸ đưa cho MH đọc và nói "Em muốn chị đọc và có gì góp ý cho em". Tôi hỏi bạn định gửi đăng bài viết này ở đâu à? bạn nói: em chỉ viết để cho mình thôi. Tôi xin phép bạn cho tôi được đưa bài này lên Blog TRI ÂN CUỘC ĐỜI và giới thiệu, mời bạn vào thăm BLOG này. Qua câu chuyện Ngọc Tú kể có một số chi tiết (không có trong bài viết trên) mà MH rất ấn tượng, đó là: Mẹ cả tìm và cưới vợ cho chồng, rồi ở nhà nuôi con để chồng và dì đi làm ăn (Ba Ngọc Tú là lái xe tải đường dài, mẹ Ngọc Tú phải đi theo thu tiền và mang về cho mẹ cả giữ, lo quán xuyến gia đình). Ba người họ và năm đứa con (do mẹ Ngọc Tú sinh) cùng sống chung trong một mái nhà hòa thuận, hạnh phúc, yêu thương nhau lắm. Khi Ba Ngọc Tú mất, Mẹ cả nói với Mẹ hai: Ông ấy mất rồi, Dì đừng bỏ tôi... Mẹ hai nói: Chị đừng nói vậy, em sẽ ở với chị đến hết đời... Và cứ đến bữa ăn, Mẹ hai xúc một thìa cơm cho mình, lại xúc một thìa đút cho Mẹ Cả. Khi đó, Mẹ cả đã bị tai biến liệt nửa người. Còn Ngọc Tú thì suốt Từ lúc nhỏ đến lúc đi lấy chồng, không đêm nào rời nách Mẹ cả. 
MH xin được đăng nguyên văn bài viết, dù Ngọc Tú có nhờ "sửa giúp", vì MH thấy không có gì phải sửa. Đó là những dòng viết rất thật và cảm động.  

Nha Trưng - 20/10/2014
            MH

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

ĐỌC “BỐN MÙA” THƠ TRẦN NHUẬN MINH NXB VĂN HỌC HÀ NỘI 2011

 MIỀN DÂN GIAN MÂY TRẮNG.

Cũng có thể trong thời gian chết lâm sàng, Trần Nhuận Minh tình cờ lạc vào miền dân gian khác lạ, những gì ở đây đều không giống những gì ở cõi người dù ông đã phải “bò toài” trong hơn 60 năm qua. Để có thể lý giải những gì mà ông đã gặp, ông đã phải đặt tên cho miền dân gian khác lạ đó là “Miền dân gian mây trắng”. Ông vốn là người cẩn trọng trong cuộc sống và trong đối nhân xử thế với cõi người. Vì cõi người này vẫn còn lắm kẻ gian manh xảo trá, ghét ghen và đố kỵ như ông đã gặp trong “Bản xô nát hoang dã” và “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh”. Ông đặt tên cho thiên phóng sự của mình như thế là một điều rất cần thiết. Sau tên mỗi bài thơ, rất nhiều câu thơ và rất nhiều câu kết ông còn để dấu chấm lửng (…) Hình như ông muốn gửi gắm tới chúng ta tất cả đều dang dở, chưa kết thúc, chưa tận cùng chấm hết. Muốn mở ra cho ta một trường liên tưởng không dứt. Cũng như các tác phẩm trên ở đây tôi cũng lần lượt dọc theo hành trình của “Miền dân gian mây trắng”.
HÒN GÀ CHỌI…”

Cứ từ đó mà suy ra và biện minh cho tất cả những gì đang diễn ra ở trong “Miền dân gian mây trắng” đều là điều có thể.
Hòn Gà Chọi ! Đúng là đôi gà chọi.
Tàu rẽ trái phía bên kia
Hòn Gà Chọi đã thành hòn Cá Chép đang bơi
Tất cả đều đổi thay
Dù vững bền như đá
Thay đổi góc nhìn, chỉ cần thế mà thôi …”
Vững bền như đá mà còn đổi thay huống gì cõi người. Chỉ cần một ẩn dụ ấy thôi, Trần Nhuận Minh đã xua tan tất cả mọi ngờ vực và đố kỵ về tác phẩm "Miền dân gian mây trắng". Nhưng hiểu như vậy theo tôi vẫn là chưa hết những thông điệp mà bài thơ còn ẩn chứa. Đừng đặt niềm tin tuyệt đối vào một điều gì. Tất cả đều có thể đổi thay khi ta đổi góc nhìn, thay đổi nhận thức. Một thời ta đã như Nhà thơ Việt Phương đã viết: "Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ. Trăng Bắc Kinh tròn hơn trăng Mỹ". Một thời tất cả mọi thông tin về tư bản đều bị bịt kín, bị bóp méo. Một thời chủ nghĩa giáo điều đã tàn phá đất nước này tan hoang kiệt quệ. Giờ cũng đất nước ấy, con người ấy ta đã biết thay đổi góc nhìn thì nền kinh tế (vâng chỉ kinh tế thôi) đã trở nên phồn thịnh. Vâng:
"Thay đổi góc nhìn, chỉ cần thế mà thôi"
ANH ĐÂY CÔNG TỬ”

Đây là bài thơ rất đậm chất hài hước dân gian, là Công tử mà không một xu dính túi đến nỗi đi đón người yêu còn phải:
Chờ anh, anh đón em về
Anh còn mượn áo, với thuê cái quần”
Và chàng công tử này cũng giàu lắm:
Vàng, đô ư ?
Có ! Lúc cần mới tiêu
Biết khi nào vị công tử cần tiêu và tiêu vào việc gì ? Vì thế cái “Vàng, đô” ở đây chỉ là cái hão huyền, khoác lác với người yêu:
Mai anh bán nắng bến Triều
Bán mưa chợ Cháy nộp cheo cho làng”
Và:
Xe công nông rất rộn ràng
Rước dâu mời cả họ hàng cùng đi”
Đúng là chuyện cười ra nước mắt !
VẪN CÒN ĐÂY…”

Đã rất nhiều Nhà thơ viết về chuyện Tấm Cám, khen chê, lý giải đủ điều về tội ác của Tấm. Có Nhà thơ nhạc sĩ còn lấy hình ảnh Tấm là biểu tượng cho những cô gái trung hậu đảm đang ở nông thôn Việt Nam. Cũng rất nhiều người lý giải và bất bình với tội ác man rợ của Tấm. Một truyện cổ tích mang tính ác và tính bạo lực như vậy có nên đưa vào sách giáo khoa cho trẻ con học hay không ? Có lẽ ngành giáo dục cũng cần xem xét lại. Cũng có người biện minh cho tội ác của Tấm là do vua chẳng ra vua, chỉ quẩn quanh với quả thị, với gốc xoan đào, với con chim vàng anh mà quên đi chức phận làm vua là phải biết ban điều thiện và trừng trị tội ác nên cái ác mới sinh ra. Cũng có Nhà thơ trong đó có Trần Nhuận Minh thì coi đây là quy luật tất yếu khi địa vị xã hội của con người thay đổi thì nhân cách cũng thay đổi. Ở địa vị càng cao thì sự gian manh, xảo trá độc ác càng cao, càng man rợ:
Man rợ và thấp hèn
Cô Tấm vợ vua là một người như thế
Ta yêu suốt tuổi thơ là cớ làm sao ?...”
Một câu hỏi đang xoáy vào tim óc của ngành giáo dục. Cô Tấm ấy không hiểu vì sao cứ tồn tại “Như vẫn còn đây trong mùa trảy hội” thì thật là man rợ, thật đại loạn.
TA QUA BẾN LÚ…”

Chỉ cần mấy câu thơ mà Trần Nhuận Minh đã khắc họa được sự hủy hoại nhân cách, sự hỗn mang của “Miền dân gian mây trắng”:
Ta rằng: Thiên hạ khác rồi
Chẳng ai đọc sách nghe lời vua ban
Vua rằng: Tớ bảo các quan
Ta rằng: Quan bận săn toàn đô la”
Một xã hội chỉ lấy đồng tiền làm mục tiêu của cuộc sống !
EM ĐI BIÊN GIỚI…”

Chuyện mẹ chồng nàng dâu trong dân gian được Trần Nhuận Minh khai thác để tố cáo cái ngu dốt ở cõi người:
"Em đi biên giới buôn cam
Mẹ chồng lại bảo đi làm ba toa"
Chuyện tưởng chỉ có thế mà mẹ chồng nàng dâu lại đưa nhau ra tòa và ông quan tòa lại quá ngu dốt:
Quan tòa bắt giải trình toa hàng gì ?...
Chữ "toa" lò mổ mà ông quan tòa lại hiểu là "toa hàng", thì thật ngu dốt đi đến tận cùng. Không thể tin cậy vào quan tòa, mẹ chồng nàng dâu lại lôi nhau:
"Về làng hỏi cụ trưởng chi
Cụ trưởng chi bảo ba thì hơn hai"
Và chữ "ba" bây giờ lại được cụ trưởng chi hiểu là số lượng. Trong cái dốt nát ngu tối nàng dâu chỉ biết ngửa mặt kêu trời:
"Chao ôi ! Nước rộng, non dài
Nỗi oan, em biết cậy ai bây giờ"
Nước thì rộng, non thì dài, ở đâu cũng chỉ một lũ quan tòa, trưởng chi dốt nát ấy mà thôi.
TỪ XỬA TỪ XƯA”

Ngày xưa thời Khổng Tử đã biết lấy dân làm gốc, tất cả cho dân và vì dân và ngày nay ta cũng đang nói chính như thế, không chỉ một lần mà ngàn lần. Nhưng người dân ở đây cứ như cái thớt, ai muốn chặt chém băm vằm thế nào cũng được. Bao chuyện trái ngang dân giơ đầu ra chịu. Hỏi ai ai cũng lắc đầu im lặng:
Mọi đặc quyền đều xúc phạm Nhân Dân
Và bất công như quả bóng lăn tròn
Từ chân người này sang chân người khác
Im lặng là vàng ư?
- IM LẶNG LÀ TỘI ÁC…”
ÔNG GIÀ NẰM TRONG QUAN TÀI…”

Chuyện đời thật quá éo le đến nỗi người chết nằm trong quan tài mà không thể chịu nổi. Chết rồi còn phải vùng dậy mà kêu mà van. Chuyện ma chay cưới xin, mừng thọ, khao lão mẹ cha thời hiện đại của các ông quan đầu huyện, đầu tỉnh, đầu ngành đã gieo rắc nỗi khủng khiếp kinh hoàng cho các cán bộ công nhân nghèo khổ. Sau mỗi đám tang, đám hỷ như thế các ông quan thu về tiền tỷ. Nhưng chính đây cũng là dịp các quan dưới chức dưới quyền tỏ lòng trung thành mẫn cán làm kiếp chó dê trâu ngựa. Ông già nằm trong quan tài:
Đời ông theo gót Cụ Hồ
Muối vừng cơm nắm… cầm cờ tiên phong
Một trai duy nhất, con ông
Làm quan đầu tỉnh cũng không kém đời…”
Cũng chính nhờ chức quan đầu tỉnh mà kéo về đây một lũ lốc nhốc áo xô, khăn mấn là con trai, con dâu, con gái, con rể hờ. Ông già đã vùng dậy:
Oan tôi ! Xin chớ nghi ngờ
Tôi không con bịch con bồ ở đâu
Bực mình… muốn nói một câu
Mà không cất nổi cái đầu được lên…
Con ơi
Ông khẽ khàng rên...
Nỗi đau thành cỏ mọc trên nấm mồ...”
Nỗi đau đời, nỗi đau của ông già một thời theo Cụ Hồ giờ còn mãi, còn mãi vì cỏ xanh tượng trưng cho sự bất diệt.
NGÀY NÀY THÁNG NỌ…”

Chuyện thật mà như đùa, tất cả đều xảo trá và gian manh đến như:
Ngày này, tháng nọ, năm kia
Nàng trong khách sạn cặp kè một anh
Anh này đang tiến bộ nhanh
Vừa Giám đốc Sở vừa Thành ủy viên
Hai người đứng ở hàng hiên
Hôn nhau một cái, rồi lên trên lầu…”
Chuyện nhân tình nhân ngãi, bồ bịch tùm lum như thế giữa ban ngày ban mặt. Chuyện cứ như ở đâu đó trong “Miền dân gian mây trắng”. Đến như thế này là cùng đường rồi. Chuyện hôn nhau một cái bên hàng hiên giữa một ông Thành ủy viên và một cô gái buôn Tần bán Sở. Chuyện dẫn nhau lên lầu trong khách sạn đã là chuyện thường tình của đời nay. Một Thành ủy viên mà như thế đó ! Và một người nhân cách như “nàng” mà giờ đây:
Mừng nàng làm cán bộ rồi
Có hai con gửi hai nơi xa nhà"
Với một câu thơ chắc như đinh đóng cột:
"Một con thì giống Chánh tòa"
Ông Chánh tòa mà cũng bồ bịch hủ hóa như thế ư ? Và một câu:
"Một con … như là … Cục trưởng Hải quan”
Sự ỡm ờ ở đây nó chở được sự châm biến, mỉa mai sâu sắc, ta hiểu thế nào đây câu thơ này: Như là ... con, hay cũng chính là cục trưởng Hải quan. Một cục trưởng đạo mạo danh giá như thế qua thơ Trần Nhuận Minh lại trở thành một đứa con của một gái bán hoa. Mà đã là con thì có thể rầy la, chửi mắng và sai khiến. Đúng là một lũ nô lệ của tình dục. Cái giá, cái nhân phẩm của ông Chánh tòa, của ông Cục trưởng Hải quan đã bị nhấn chìm xuống tận bùn đen chỉ bằng hai câu thơ tài hoa và dũng cảm đến độ thượng thừa. Phải chăng chuyện như thế ở “Miền dân gian mây trắng” chứ không phải ở cõi người.
Miền dân gian mây trắng” chỉ có 43 bài thơ mà đã vạn ngàn trái ngang dâu bể. Vẫn còn rất nhiều điều mà Trần Nhuận Minh muốn gửi gắm nhưng đã đến lúc tôi dừng lại. Tôi đã hoàn toàn kiệt sức khi phải cùng ông lãng du trong “Miền dân gian mây trắng” ấy. Ông xê dịch phần hồn trong đó với tốc độ của ánh sáng 32 vạn km/giây. Còn tôi xê dịch cái thân xác nặng nề già cỗi này sao cho kịp cái mênh mông trời bể của ông. Chỉ mong rằng những gì mà Trần Nhuận Minh đã viết, đã phơi trải nó chỉ ở trên, ở trong “Miền dân gian mây trắng” mà đừng giáng xuống cõi đời này nữa vì cõi đời này cũng đã lắm nguồn cơn dâu bể trái ngang lọc lừa lắm rồi.
MỘT QUYẾT ĐỊNH DŨNG CẢM NHƯNG BẤT CÔNG”

Khi đọc lời thưa đầu sách của “Bốn mùa” tôi thực sự trăn trở vì Trần Nhuận Minh đã quyết định loại bỏ những sáng tác của ông từ 1960 đến 1985. Ông chỉ giữ lại 29 bài và để nó vào phần phụ lục: “Gửi lại dọc đường”. Tôi coi đó là một quyết định vừa dũng cảm nhưng cũng vừa bất công.
Dũng cảm vì dám từ bỏ một quá khứ, một phần tư thế kỉ văn học mà không phải ai cũng có thể có được. Còn bất công vì dù sao đó cũng là những đứa con tinh thần mà ông đã mang nặng đẻ đau trong 25 năm có lẻ. Và bây giờ, bình tĩnh ngồi đọc lại, nó vẫn có nhiều cái được của một thời văn chương, như nhiều tác giả khác.
Một điều chắc chắn rằng những tập thơ của một thời ấy sống được, tồn tại được là cả một sự cạnh tranh khốc liệt lắm. Thời ấy để ra đời một tập thơ đâu có dễ dàng gì, ba bốn lần kiểm duyệt, tiền nong của Nhà nước bỏ ra thì trước hết thơ phải phục vụ Nhà nước. Có nghĩa là tính tư tưởng của nó phải đạt được chuẩn mực của xã hội đương đại và người đọc đương đại. Số sách thời đó bao giờ cũng xuất bản với số lượng bản in rất lớn. Thơ thời đó có mặt khắp các hiệu sách nhân dân ở bất kỳ nơi nào. Nghĩa là đối tượng đọc sách đa số là nhân dân. Còn bây giờ ai có tiền cũng có thể in thơ và đó có phải là thơ không thì còn phải bàn nhiều lắm. Tự bỏ tiền in thơ thì số lượng phát hành nhỏ nhoi đến thảm hại.
Nhưng càng đọc kỹ thơ Trần Nhuận Minh tôi càng đồng thuận với quyết định của ông. Vì ông đã từng chua chát:
Tôi già rồi
Chẳng biết giấu vào đâu
Nỗi ngu dại học từ thời tốt đẹp”
Đó cũng là một lý do biện minh cho quyết định của mình. Như đầu bài tôi đã viết Trần Nhuận Minh luôn muốn làm mới mình, muốn vượt lên chính mình. Ông biết đoạn tuyệt với những gì của quá khứ, thơ ngây, ấu trĩ về nhận thức của mình là một điều dũng cảm. Vậy mà sao tôi vẫn thấy nao lòng tiếc nuối. Biết đâu khi được đọc toàn bộ tác phẩm của ông, người đọc lại càng cảm thông và trân trọng với di sản văn học của ông hơn. Có thể bây giờ quyền quyết định là của ông về số phận tác phẩm của mình, còn mai sau… hậu thế sẽ giữ lại những gì mà ông đã đoạn tuyệt. Tôi tin điều đó sẽ trở thành hiện thực và hậu thế sẽ hiểu hơn về con người và hành trình văn chương của Trần Nhuận Minh.
Giờ tôi xin nói đôi điều về hai bài thơ của ông đó là “Thành phố bên này sông” và nhất là “Một trăm bước cuối cùng” trong phần phụ lục “Gửi lại dọc đường”.
Với hai bài thơ này dù Trần Nhuận Minh đã viết trong lời tác giả về “Một trăm bước cuối cùng”, “Và cả hai bên đều có rất nhiều nỗ lực tốt đẹp cho tương lai”. Nỗ lực ấy là gì (?) thì hậu thế vẫn cần biết đến cái mốc đau thương ấy. Dù không có tài liệu nào công bố về thiệt hại và sự đau thương của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Nhưng chỉ bằng hai bài thơ này của Trần Nhuận Minh hậu thế sẽ hiểu và tự mình định đoạt lấy vận mệnh của đất nước mình. Vâng ! Niềm tin đừng bao giờ tuyệt đối hóa mà hãy có giới hạn nhất là đối với ngoại bang về mọi mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa.
Tôi chỉ nói về hình tượng người phụ nữ trong “Một trăm bước cuối cùng”. Trần Nhuận Minh đã cho biết bài thơ là cảm xúc được tạo dựng lên từ một nguyên mẫu có thực trong đời, từ một bài báo đã được in trên Báo Nhân dân (?).
Biết bao Nhà thơ, Nhà văn đã sáng tạo ra hình tượng người phụ nữ Việt Nam anh dũng và bất khuất. Người mẹ vẫn đào hầm, chị Sứ trong “Hòn đất”, chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm súng” thì đời vẫn tin hình tượng người phụ nữ của Trần Nhuận Minh sáng tạo ra trong “Một trăm bước cuối cùng” là hình tượng vĩ đại nhất, bi tráng nhất mà văn học Việt Nam đương đại có thể sáng tạo ra. Chị đã lấy chính cái chết của mình, của đứa con còn quẫy đạp trong bụng mình để tiêu diệt kẻ thù. Chị Út Tịch trên tay còn có khẩu súng, bên cạnh còn có đồng đội. Còn người phụ nữ của Trần Nhuận Minh biết rằng mình chỉ còn một trăm bước nữa là mình và cả đứa con sẽ bị hủy diệt. Nhưng chị vẫn đếm từng bước, mỗi bước đi là gần tới cái chết. Thế mà chị vẫn đi. Đứa con trong bụng chị cũng lên tiếng đòi sự tồn tại, nhưng rồi nó đã biết nằm im không quẫy đạp để thức tỉnh bản năng làm mẹ sẽ làm nhụt ý chí của chị. Quân xâm lược đã phải đền tội. Cuối cùng là hình tượng của người phụ nữ và đứa con bay lên cõi cao xanh vô tận. Chị đã về với cõi vĩnh hằng trong cái rên xiết, ai oán của kẻ thù.
Dù đó là hình tượng do Trần Nhuận Minh sáng tạo ra nhưng tất cả chúng ta đều nhìn rõ xương cốt và hồn thiêng dân tộc kết tụ vào người phụ nữ anh hùng. Tất cả dân tộc này sẽ cúi đầu trước hình hài và hồn thiêng của chị.
Bài thơ mãi mãi tồn tại, tồn tại vững bền là cái mốc, là lời cảnh báo cho mọi thế lực thù địch tàn bạo nhất. Hình tượng ấy đã và còn khắc sâu mãi trong tâm khảm người dân Việt Nam, nhắc nhở chúng ta sống phải nhân hậu nhưng không bao giờ được mất cảnh giác.
Trong lời “Tự thuật” Trần Nhuận Minh đã phơi bày gan ruột, phơi bày cuộc đời ông ra giữa cõi người mong nhận được một lời sẻ chia, một nỗi niềm đồng vọng:
Viết được một câu thơ trung thực với Nhân Dân
Tôi đã đi qua bốn mươi năm bão táp
Cả xã hội diệt trừ cái ác
Cái ác vẫn ngang nhiên cười nói giữa đời”
Cổ nhân đã dạy: “Trăm dơ lấy nước làm sạch”(nước ở đây là vật chất có công thức hóa học là H2O). Mọi dơ dáy bẩn thỉu vật chất đều có thể lấy nước tẩy rửa, làm sạch. Và: “Nước dơ lấy gươm làm sạch” (Nước là đất nước, là Tổ quốc). Đất nước này đang bị bọn biến chất, hủ hóa, độc ác, tham nhũng làm dơ đục. Liệu rằng câu thơ rắn hơn cả sắt thép, sắc hơn cả gươm đao, vững bền và bất tử của Trần Nhuận Minh và bao nhiêu Nhà thơ tâm huyết chính trực khác có thể diệt trừ được cái ác, có thể làm cho đất nước này đỡ dơ đục hơn không ? Đó có lẽ vẫn chỉ là khát vọng. Ta đã từng nghe Đấng Âm U của Trần Nhuận Minh tuyên bố một chủ thuyết xanh rờn “Bất công còn hơn hỗn loạn”. Chủ thuyết đó đã và đang trở thành quốc sách thì tất cả vẫn chỉ là ước mơ và khát vọng. Nhưng nếu ta sống mà không có ước mơ và khát vọng ta sẽ sống như thế nào và sẽ sống bằng gì ? Ta phải tin vào điều thiện rồi sẽ có một ngày xã hội này sẽ trở nên tự do, dân chủ, công bằng và văn minh. Ta tin rồi sẽ có một ngày khi chân ta dẫm trên lưng con rắn độc, con rắn độc sẽ biến thành sợi dây. Và ngày ấy, với:
     “Tư duy và tốc độ
     Nhìn thấu cõi Nhân gian
  Định đoạt lại Thiên Đường và Địa Ngục
  Tổ chức lại những cơn mưa mùa thu
  Sắp xếp lại sắc trời
  Với cánh chim bay là nốt nhạc
  Tạo dựng mới những tầm cao khát vọng
  Sinh nở mới những mùa trăng yêu đương
  Chưa từng có bao giờ...”
Để nói về con đường sáng tạo thi ca đầy gian truân khổ ải, Trần Nhuận Minh đã viết:
                     "Tập thơ khép, nửa mái đầu xổ bạc"
Và:
"Viết được một câu thơ trung thực với nhân dân
Tôi đã đi qua 40 năm bão táp"
Tôi muốn mượn ý thơ đó của Trần Nhuận Minh để gửi gắm một phần nỗi niềm của mình: Viết được một câu trung thực với thơ Trần Nhuận Minh tôi đã đi qua 2 năm bão táp.
Bắc Ninh, 2012 - 2014

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

ĐỌC “BỐN MÙA” THƠ TRẦN NHUẬN MINH NXB VĂN HỌC HÀ NỘI 2011

(Tiếp theo)

 
Tạ Anh Ngôi với nhà thơ Trần Nhuận Minh

 45 KHÚC ĐÀN BẦU CỦA KẺ VÔ DANH”

Đàn bầu là thứ nhạc cụ độc đáo nhất của người Việt mà âm thanh trầm bổng của nó có thể vọng vang, thẩm thấu và lay thức cõi người. Trần Nhuận Minh đã dùng chính tiếng đàn bầu của mình chứ không phải của một kẻ vô danh nào khác. Kẻ vô danh đó cũng chính là cái tôi của Nhà thơ. Một cái tôi đã đẩy đến tận cùng để trở thành một vĩ nhân. Chính vì lẽ đó mà mỗi khúc đàn bầu ở đây khi ngân lên là một chân lý, một tập hợp chân lý, một châm ngôn, một tập hợp châm ngôn sáng rõ và minh triết. Ở đây ta không còn gặp cái hư ảo, cái mặc định trong “Bản xô nát hoang dã”.
Vai trò của cái “tôi” hoặc “ta” trong 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh được khẳng định có tầm vĩ đại. Qua trí tưởng tượng vĩ đại của cái tôi đã tạo ra một thế giới mới. Cái tôi, vẫn là cái tôi ấy đã đẩy Trần Nhuận Minh tiếp cận với Đấng Âm U và ông đã tạo ra 45 khúc đàn bầu, đó là thế giới thi ca kỳ diệu, nó vượt ra ngoài trí tưởng tượng của những kẻ trần tục như chúng ta. Những vần thơ như thế chỉ có thể được sáng tạo ra từ trong cõi chết. Tất cả sự phi lý ở đây lại bắt cõi người này công nhận nó và cũng giúp cho mỗi người tiếp nhận được chân lý. Điều kỳ diệu nhất của thế giới thi ca của Trần Nhuận Minh chính ở chỗ đó. Chính cái tôi đã tạo ra sự bất diệt cho thi ca. Vì thế mới có những câu thơ mềm mượt như nhung nhưng lại cứng hơn sắt thép, sắc hơn gươm đao. Ta cứ đi dọc theo và lặng nghe âm hưởng 45 khúc đàn bầu ta sẽ sững sờ trước những gì mà Trần Nhuận Minh đã khám phá và thu hái được từ Đấng Âm U.
KHÚC 1 – 5:

Đây là cuộc vật lộn, tìm kiếm, chứng minh cái “ta”, những giả thiết nghi ngờ, những chứng minh khẳng định. Cái “ta” của một thời đã làm điêu đứng nền văn chương, đều hủy diệt biết bao tài năng, đã làm cho đất nước điêu đứng. Cái lá chắn của cái ta, chủ nghĩa tập thể. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Không ai phải chịu trách nhiệm cho sự lầm than, đói khổ của nhân dân ngoài tập thể. Tập thể là gì? Là số đông, số đông càng lớn thì cái khổ của số đông khác càng lớn. Những khúc đàn sau Trần Nhuận Minh dần dần đề cập đến những gì là giả thiết trong năm khúc này. Cuối cùng Trần Nhuận Minh đã phải mượn câu thơ của cụ Nguyễn Đình Chiểu để chứng minh cái ta không tồn tại hoặc cái ta chỉ là vô danh “Ta vô danh trong ba ngàn thế giới vô danh”.
KHÚC 6 - 7:

Cái tôi, cái cá nhân đã được khẳng định. Sự giải phóng cái tôi là một cuộc cách mạng vĩ đại diễn ra rất quyết liệt trong mặt trận văn học nghệ thuật. Một thời trong văn chương chỉ được phép nói đến cái ta, cái tập thể, phải biết tô hồng xã hội (cũng tốt thôi) nhưng lại quá cực đoan. Vai trò của cái tôi đã hoàn toàn bị hủy diệt. Tất cả bị đánh tơi tả và không những thế bao kẻ mất việc phải về đập đá mưu sinh và cũng bao kẻ phải ngồi tù. Cuộc tìm kiếm và đấu tranh cho cái tôi diễn ra lâu dài và quyết liệt trong mặt trận văn học nghệ thuật. Trần Nhuận Minh viết:
"Cuộc cách mạng đã bắt đầu hay còn sắp sửa
Cơn bão lớn nổi lên từ nghiên mực..."
Và: “Từ trong sâu thẳm Cái Tôi
Bay lên tất cả
Cái Tôi sáng tạo ra Thế giới
Và chuyển rung trong mọi tế bào Ta...”.
Lịch sử của nhân loại đã khẳng định hai câu thơ dưới đây của Trần Nhuận Minh là chân lý tuyệt đối:
"Có người đẩy cái Tôi đến tận cùng thì thành bậc Chân tài
Có kẻ đẩy cái Tôi đến tận cùng thì thành tên đại ác".
Thực tế đã chứng minh rằng khi cái ta (HTX) bị thất bại và cái tôi của người nông dân - thợ cày lên ngôi thì:
Bát cơm đầy hơn khi ruộng chia bé lại
Nụ cười tươi trên gương mặt thợ cày”
Diện tích đất nước ta vẫn vậy và diện tích đất đai canh tác thì vẫn vậy. Một thời cái tập thể đã tàn phá tan hoang “Đất không nuôi nổi người. Người không nuôi nổi đất” (thơ Chế Lan Viên) và “Sắn khoai quắt cả người” (thơ Nguyễn Phúc Nghị). Còn bây giờ vẫn đất đai và con người ấy khi cơ chế đã được giải phóng thì nước ta lại xuất khẩu gạo vào nhất nhì thế giới. /

KHÚC 8:

Khát vọng của Trần Nhuận Minh rồi sẽ đến ngày bao điều tốt đẹp cũng sẽ đến và:
Kẻ phản trắc lập tức bị lưu đày
Ở chỗ chính y đang hằng sống”
Lưu đày ở nơi rừng thiêng nước độc, xa xôi hẻo lánh chẳng còn ai biết đến y nữa thì có thể y lại thanh thản. Còn lưu đày ở chính nơi y hằng sống thì sự lưu đày ấy mới thực sự là lưu đày. Cả cuộc đời của y sẽ sống trong hổ thẹn đắng cay trước sự chứng kiến của những người mà y đã phản trắc. Và:
Tên ngậm máu phun người
Mặt hắn tự nhiên đầy máu tanh hôi
Của chính hắn”
Muốn hại người, làm bẩn người thì chính hắn phải chịu lấy cái nhuốc nhơ bẩn thỉu. Rồi Trần Nhuận Minh lại hy vọng:
Và người trồng Cây Phúc
Thì Quả Phúc đầy vườn
Nếu vô tình xéo vào lưng con rắn độc
Thì con rắn độc biến thành sợi dây”
Đó là một thế giới tự do, công bằng và văn minh sẽ được tạo dựng.
Những chương sau này tác giả vẫn duy trì chữ “ta”. Nhưng ta ở đây là hoàn toàn hoán đổi. Ta là những người cùng chí hướng, cùng tâm huyết với nhà thơ chứ không phải là cái ta có ý nghĩa tập thể của nhiều người. Âu đó là sự khiêm tốn của nhà thơ.
 
KHÚC 9:

Một khúc đàn bầu nhiều âm hưởng dạt dào, nhiều mê say đắm đuối. Trần Nhuận Minh không muốn chúng ta phải rượt đuổi những ý tưởng cao siêu và cũng vừa mộng mị. Cũng có lúc nặng nề. Tác giả đã gảy lên một khúc đàn thơ làm cho lòng ta dịu lại. Ta lại nghĩ về “Em” và về những khát vọng mộng mơ:
Suốt đời Em khao khát
Những gió trăng muôn thuở chẳng bến bờ
Và vĩnh viễn
Nợ nần khói sương...”
Và giải khăn mềm vắt vai
Là một mảnh ánh trăng vàng
Bay trong cánh rừng thưa...”
KHÚC 10:

Một sự bừng thức đang day dứt đang trăn trở, ở đây Trần Nhuận Minh đã có những câu thơ như MUỐI, chảy xót xa trong máu ta, những câu thơ như TRỐNG, đánh liên hồi trong tim ta, những câu thơ như LỬA, cháy không nguôi trong xương ta:
Bạn thấy chăng
Hàng triệu triệu Người
Lần lượt lao vào lửa đạn
Cho Tổ Quốc
Sáng bừng tên tuổi
Rồi để lại những nấm mồ vô danh
Trắng đến tận chân trời...”
KHÚC 11:

Vẫn là những câu hỏi xoáy vào tim óc cõi người:
Thiện và Ác
Cái nào là bất diệt ?
Một đời sông
Chỉ có chảy thôi ư ?”
KHÚC 12:

Đừng quá yêu tin (?). Sự yêu tin quá độ sẽ mang đến sự mất mát lớn lao:
Khi yêu tin
Ta thường không cảnh giác”
Lịch sử đã chứng minh điều đó và truyền thuyết đã chứng minh điều đó:
Vẫn còn đây
Cổ Loa thành
Vạn thuở
Trắng trời lông ngỗng bay...”
KHÚC 13:

Khát vọng chỉ có thể nảy sinh trong cõi chết. Ở đó không có ai cám dỗ, không có ai kìm hãm, chỉ có một Đấng Âm U dẫn dắt cho khát vọng cháy bùng. 
 
KHÚC 16:

Châm ngôn không thể là thơ. Còn thơ của Trần Nhuận Minh ở đây đã trở thành châm ngôn. Đơn giản vậy mà ngàn đời vẫn không thể nhận biết để thoát ra. Những cặp đùi của người đẹp có thể giết chết những anh hùng hảo hán hơn cả gươm đao. 
 
KHÚC 17:

Ta gặp lại triết gia vĩ đại của nhân loại : Khổng Tử. Rõ ràng những câu thơ ở đây đã như muối, như trống, như lửa. Những triết lý về sự thịnh suy, tất cả những ngai vàng, những lầu son gác tía, những vị tướng lừng danh đều được xây dựng từ máu xương của nhân loại. Đưa ra những liệt kê thật đau đớn. Và rồi để kết lại Trần Nhuận Minh đã cầu xin (Mặc dù thời gian này không còn vua chúa nữa).
Ta thắp nén hương Đời
Lạy tạ
Xin Sông Núi sinh thành
Những Nhà Vua có Đức
Để mọi gia đình đời đời Sum họp
Và sa trường
Mọc đầy Bông lúa vàng”
Tưởng như khát vọng đó là đơn giản nhưng ngàn đời nay vẫn thế, vẫn cứ sản sinh ra những ông vua ngu tối đẩy dân đen vào sông máu, núi xương.
KHÚC 18:

Những giả định và mặc định mang tính hư ảo. Có thể tác giả đã nhận thức được, còn chúng ta, chúng ta chưa nhận thức được. Liệu lời khẳng định này có được số đông đồng thuận.
Tình yêu ở ngoài hôn nhân
Tình yêu mới vững bền”
Triết lý này có thể xáo trộn những nhận thức cổ điển chăng ? Tôi vừa nghi ngờ và cũng vừa tin vào triết lý này của Trần Nhuận Minh. Một khía cạnh nào đó nó đã thành chân lý. Tình yêu của mối tình đầu tuy dang dở nhưng bao giờ nó cũng vững bền “Có những điều đốt mãi chẳng thành tro” (Thơ Lê Quang Trang).
KHÚC 20:

Đấng Âm U mà Trần Nhuận Minh tạo ra để đối thoại, để gửi gắm để cứu vớt tâm hồn nhưng hóa ra cũng chỉ là tầm thường giả dối và bất công. 
 
KHÚC 21:

Như trên tôi đã nói trước khi nhảy xuống sông Mịch La trẫm mình, Khuất Nguyên đã gặp được người đánh cá, ông ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Tất cả thiên hạ đều say, chỉ mình ta tỉnh. Tất cả thiên hạ đều đục, chỉ mình ta trong” và ông đã:
Chọn chỗ nước trong để trẫm mình
Tiếc thay!
Con cá lớn nuốt ông
Trong bụng cá
thức ăn đang thối rữa”.
Thì ra người thông minh chính trực ở đâu và thời nào cũng bị bủa vây và hãm hại.
KHÚC 23:

Mọi biến thiên của vũ trụ lại nằm trong cái lặng im. Hai câu kết thật tài hoa. Sao đến tận bây giờ vẫn tài hoa Trần Nhuận Minh và hóm hỉnh khi viết về em. Sự thấu hiểu của em lại bắt nguồn từ cái im lặng của ta.
Ta đến nhà Em
Lặng ngắm kèo, ngắm cột
Em biết là ta đã mê đắm Em rồi”
Vâng ! Lại là những câu thơ “Thổi nao lòng từ tuổi chớm hoa bay” mãi mãi đi vào lòng người, và ở luôn trong đó cho đến trọn đời.
KHÚC 24:

Một chân lý tuyệt đối chăng ? Có lẽ ! Và không có lẽ. Hay phải nhờ đến Đấng Mê Tơi “như thế là như thế”. Ta không thể giải thích những điều tưởng như chân lý mà Trần Nhuận Minh đã đưa ra:
Cả đời không bình yên
- Phút gặp người tình cũ
Chao ôi ! Tình yêu như ngọn gió
Bay qua
Đầu mũi kim”
Ngọn gió bay qua đầu mũi kim ngọn gió sẽ bị cào cứa rách nát và ngọn gió sẽ đau mãi không thôi. Tình yêu trong đời của chúng ta cũng vậy. Nó chỉ tồn tại trong khát vọng và trong nỗi đau như Nguyễn Hoa đã từng viết: “Em là muối ướp nỗi đau tươi mãi”.
KHÚC 25:

Cảnh dâu bể khôn lường làm cho lòng Nhà thơ xót đau. Cứng như đá cũng phải đổi thay nữa là cõi người và làng bản phố phường:
Buổi sáng đi
Xóm cũ vẫn là Làng
Lúc chiều về
Làng đã xoay thành Phố
Nhà đã tắt tiếng ru con muôn thuở
Tục ngữ ca dao
Chết trong sách giáo khoa...
Lũ trẻ ngủ chập chờn
Trong nhạc rock phát ra loa...”
KHÚC 26:

Cũng trong một tiếng đàn bầu sao lại có cảnh ngược chiều nhau:
San đất
Xẻ nhà
Máu còn không nỡ tiếc
Đếm hết tóc trên đầu
Không hết nghĩa tử sinh”
Sao lại có sự vần xoay này, phải chăng lúc nào sự phản trắc cũng rình rập quanh ta dù một thời ta đã sống với nhau bằng tất cả nghĩa tử sinh, sao lúc nào ta cũng phải cảnh giác:
Mắt này ngủ
Thì mắt kia phải thức
Lúc gian nguy
Mình canh chính thân mình”
KHÚC 27:

Lại trách móc Đấng Âm U mà ông đã sáng tạo ra là không công bằng chính trực. Biết tin vào ai ? Biết dựa vào ai :
Người hể hả đưa lên Thiên đường
Những tên xảo trá
Và vội vàng đẩy xuống Địa ngục
Những vị anh hùng...
Ta không hiểu bản thân Ta
Ta phải tạo ra Người
Rồi chính Người
Ta càng không hiểu nổi...”
Những khúc cuối ta lại cần phải suy ngẫm hơn rất nhiều vì những gì mà Trần Nhuận Minh muốn gửi gắm vào đó. Trần Nhuận Minh đã đề cập đến một vấn đề rất hệ trọng của thực trạng xã hội. Ở đây Đấng Âm U đã phán rằng :
Thà bất công còn hơn là hỗn loạn
Người nói thế và mỉm cười
Nụ cười vô tư lự
Của Thiên thần
Và của Trẻ sơ sinh”
Trước nỗi bất công của cõi người mà Đấng Âm U vẫn cười thì thật là đau xót.
Trần Nhuận Minh muốn gửi một thông điệp từ nơi cao xanh kia Đấng Âm U cũng đã thấu hiểu thể chế của đất nước này. Hóa ra Đấng Âm U cũng chỉ là kẻ xu thời, bợ đỡ, kẻ cơ hội như các chính trị gia của đất nước này. Đành chấp nhận sự bất công đổ xuống đầu nhân dân chứ không chấp nhận sự hỗn loạn.
KHÚC 28:

Phải biết sống và nhận diện chân giả của cuộc đời. Tất cả đều biến ảo khôn lường. Trần Nhuận Minh đã cảnh báo với chúng ta:
Luôn lo xa
Họa vẫn cứ đến gần
Kẻ hiểm ác thường có khuôn mặt đẹp
Ngọn lưỡi ngọt như dao thì sợ hơn dao
Trí khôn bây giờ
Nằm trong các hầu bao...”
Một xã hội lấy đồng tiền thay cho trí tuệ !
KHÚC 29:

Âm thanh của khúc đàn này khủng khiếp và ghê sợ, nặng nề quá mà người đánh máy cho tôi lại là một cô gái có trái tim đa cảm yếu mềm. Tôi không muốn em phải nghe những âm thanh rùng rợn đó, sợ trái tim em phải run rẩy nhói đau.
KHÚC 30:

Những đổi thay nào cũng có sự trả giá, cái mới đi lên, cái cũ úa tàn cả những điều tốt đẹp nhất. Nhưng nỗi đau vẫn vậy chỉ tăng lên mà không bao giờ mất đi. Cái mới không hẳn là cái tốt đẹp.
Tổ tiên đã chết ở đây
Những gò đống cỏ xanh
Nay đã ủi đi rồi
San sát vũ trường
Sân gôn
Quán nhậu”
Và chỉ:
Còn sót lại một cánh cò trắng mong manh
Thấp thoáng bay
Trong ráng đỏ hoàng hôn
Không tìm ra chỗ đậu…”
Tất cả là cảnh hoang vu cô quạnh đến đau lòng. Cánh cò không tìm ra chỗ đậu, cánh cò bay mãi. Một cánh cò biểu trưng cho đồng quê rồi cũng phải bị hủy diệt.
KHÚC 31:

Trong quan niệm của Trần Nhuận Minh có hai thứ ánh sáng. Ánh sáng tự nhiên và ánh sáng phi tự nhiên. Nếu cứ trộn lẫn hai thứ ánh sáng đó vào nhau thì hậu quả:
Nếu ta rót đầy tràn
Ánh sáng vào ánh sáng
Thì bóng tối sẽ xuất hiện”
Nhưng ánh sáng tự nhiên dù như thế nào đi chăng nữa vẫn cho ta nhìn rõ sự thật:
Ánh sáng tự nhiên
Không đầy không vơi
Đủ để ta nhận ra
Gương mặt Em yêu và Sự thật”
KHÚC 32:

Sự bi quan và trống rỗng trong Nhà thơ cũng chính là sự bi quan trống rỗng của cõi người. Đôi mắt to hơn người mà không nhìn thấy bản thân ta và không biết học ai để làm lại bản thân mình. Chỉ có một Trần Nhân Tông dám bỏ phú quý vinh hoa, cung vàng điện ngọc để đi tìm chân lý, tìm cách giải thoát cho cõi người:
Vua Trần Nhân Tông ba mươi lăm tuổi
Đã coi ngai vàng như chiếc dép rách
Trút áo hoàng bào
Vào rừng hoang
Ngẫm nghĩ sự đời
Ăn sung luộc
Ôi giời ơi !
Ta chẳng dại học vua
Khi ở bên ta
Lúc nào cũng có hoa hậu và rượu thịt”
Nói vậy thôi Trần Nhuận Minh đâu phải là vua mà chỉ là một Nhà thơ :
Em vẫn vầy vậy thôi
Bụng khi no khi đói
Tiền lúc có lúc không
Vợ chợt mừng chợt dỗi”
Ấy thế mà không bỏ được đâu, ở đây Trần Nhuận Minh muốn gửi một thông điệp chẳng ai muốn làm việc thiện, chẳng ai dám hy sinh bản thân mình để giúp đời, cứu đời. Nhà thơ đã bắt đầu cho một sự sám hối chăng ? Nhà thơ sống lương thiện thế sao phải sám hối:
Ta nghe gió rét thổi
Qua từng đốt xương rỗng sống lưng
Và nghe bóng tối Đấng Âm U
Phủ cuối đời ta từng nấc một”
KHÚC 33:

Tất cả mọi sự tồn tại của vạn vật chỉ là tương đối, đừng bao giờ lấy cái tuyệt đối để so sánh với cái tương đối. Mọi sự ở đời phải có sự cân bằng và có sự đối trọng. Cũng như có đàn ông phải có đàn bà.
Cõi đời là bể khổ”
Thì phải có:
Thơ ca là nỗi đau lên tiếng ...”
Muốn biết núi Hy Mã Lạp cao thì vẫn phải hỏi đám mây. Sợi tơ nhện mỏng manh chăng ra để bắt con ruồi. Và chỉ con ruồi mới biết độ bền của sợi tơ nhện. Cái quy luật vĩnh hằng là như thế:
Thế gian vẫn ngổn ngang
Như khi trời đất mới tạo thành”
Và mọi cái đều tồn tại ngoài ý muốn của con người và vạn vật:
Núi nghĩ mà xanh cây
Sông buồn mà bạc sóng...
Và người cày ruộng
Vẫn chẳng cần
Những Vạc Đỉnh uy phong
Của các triều vua”
KHÚC 34:

Như tôi đã giả định những tác phẩm này là sự sáng tạo từ cõi chết. Những cảnh mà Trần Nhuận Minh nhìn thấy chỉ tồn tại trong cõi chết và ở đâu đó trong cõi Âm u:
Ta đã từng trông thấy
Những kinh thành huy hoàng, lộng lẫy,
Xinh đẹp
Tươi vui
Như cô dâu trong ngày cưới
Bỗng nhiên bị sụp đổ”
Và cũng thật rùng rợn:
Các Thiên thần
Nướng chả những vị vua
Uống máu những anh hùng
Ăn thịt ngựa và những người cưỡi ngựa
Quẳng xương xuống biển khơi
Mà đảo núi hình thành”
Trần Nhuận Minh thảng thốt kêu lên:
Chao ôi
Cõi Thiên thần
Cũng tưng bừng sự ác
Huống chi cõi Nhân gian...”
Và rồi Trần Nhuận Minh:
Ta đã từng mơ ước
Miếng ăn của kẻ nghèo
Không còn ai cướp giật
Lúa hạnh phúc chín vàng
Gọi tay người cùng gặt
Con đường đến với Tự Do
Là chính Tự Do...”
Và sẽ có một ngày:
Ấy là ngày Cái Thiện lên ngôi
Bạo lực và cường quyền
Tất cả
Thành vô nghĩa...”
Nhưng đó chỉ là khát vọng của Nhà thơ. Lòng nhân ái của Nhà thơ ở đây như muốn bao trùm lên cõi người.
KHÚC 35:

Sự thật giả, tráo trở vẫn đầy rẫy trong cõi người này. Và Trần Nhuận Minh đã nhắc người và cũng tự nhắc mình:
Vị Anh hùng ơi
Đi đêm
Nhớ mang theo Thanh Kiếm
Còn Ta
Ta mang theo Câu Thơ ”
Để diệt trừ cái ác. Nhưng Nhà thơ ơi ! Thời buổi này “Chẳng ai đọc sách nghe lời vua ban” nữa để hiểu sức mạnh của thơ còn rắn hơn sắt thép và sắc hơn cả gươm đao. Còn bọn trộm cướp, tham nhũng, hủ hóa thời này chẳng còn sợ ai cả. Chúng liên kết với nhau bằng thứ vật liệu siêu bền đó là tiền, chúng bất chấp đạo lý và luật pháp. 
 
KHÚC 36:

Kẻ đớn hèn vô tích sự lại là kẻ đang thống trị, đang chi phối mọi quy luật sinh tồn của cuộc sống. So với cái cây, con cá, con người thời nay không bằng chúng mà:
Nhưng ta biết
Bắt con cá rán ròn nhắm rượu
Chặt cái cây xẻ gỗ đóng thành giường
Nằm vắt tay ngang bụng em yêu”
Rồi Nhà thơ tự hỏi:
Ta là ai ?
Giật mình khi chợt thức …”
KHÚC 41:

Sức mạnh của nghệ thuật, sức mạnh của thi ca là sức mạnh vĩ đại nhất mặc dù Trần Nhuận Minh cũng không thể lý giải:
Nghệ thuật là gì ư ?
Ta đâu có hiểu
Nhưng ta biết
Lưỡi Kiếm ra trận của người anh hùng
Đã tôi trong lời ru con của Mẹ
Trái đất quay trong từ trường
của những Câu Thơ
Mà còn đến bây giờ”
Một nhận thức táo bạo của Trần Nhuận Minh.

KHÚC 42:

Tất cả đang tăm tối và cần một sự đánh thức để xua tan đêm tối.
Cần một tiếng chuông
Đánh vào lúc nửa đêm”
Để khỏi có những cảnh này:
Khi đi đã vấp ngã
Lúc về lại lạc đường
Và kiêu ngạo
Nghĩa là đang tự sát”
KHÚC 43:

Nhìn thế giới mà hãi hùng. Trần Nhuận Minh đã sám hối khi nhận ra thực tại.
Người con gái trẻ thì “Nỗi yêu anh còn biết giấu vào đâu”, còn Nhà thơ thì:
Ta già rồi
Chẳng biết giấu vào đâu
Nỗi ngu dại
Học từ thời tốt đẹp”
Chính vì thế mà Nhà thơ cứ phải lang thang trong cõi chết:
Nén hương tắt khi mình chưa trọn kiếp
Cầm chân hương
Đi đến cuối cuộc đời”
KHÚC 44 + 45:

Xin Nhà thơ đừng trăn trở nữa. Bốn mươi lăm khúc đàn bầu mà ông đã soạn ra đã và đang vang vọng vào cõi người. Họ sẵn sàng đón nhận những gì mà nhà thơ đã gửi gắm khi còn sống và cả khi ông đã chết. Cứ bình tâm, lòng nhân ái của ông đã bao trùm lên tất cả cõi người. Xin nhắc lại một lần nữa, những câu thơ như Muối của ông đã và sẽ chảy xót xa trong máu cõi người. Những câu thơ như Trống của ông đã và sẽ đánh liên hồi trong trái tim cõi người. Những câu thơ như Lửa của ông đã và sẽ cháy không nguôi trong xương của cõi người

(Còn nữa)