Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

MỘT GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP GIỎI NGHỀ & YÊU THƠ


   Nguyễn Văn Lưu(TGĐ tổng CTCP gốm-sứ Chu Đậu)là một người như vậy.Sau nhiều năm bôn ba với đủ các nghề, các chức vụ:Sỹ quan công an,đại úy thuyền trưởng Hải quân .Hết Hải Phòng lại vào thành phố Hồ Chí Minh, rồi ra Hà Nội.Cuối cùng, nghề gốm đã níu giữ được chân anh.Hình như tình yêu quê hương đã thôi thúc anh đến với gốm.Với tình yêu ấy,anh đã phục dựng thành công thương hiệu nổi danh một thời:GỐM CHU ĐẬU.Sau nhiều năm vất vả vật lộn với bao khó khăn,trở ngại của nghề,của thị trường khắc nghiệt,giờ đây thương hiệu gốm Chu Đậu đã nổi tiếng trong và ngoài  nước.Thương hiệu gốm Chu Đậu đã nhiều năm liền doạt thương hiệu mạnh của tỉnh Hải Dương và khu vực.Giám đốc Nguyễn Văn Lưu cũng đã là một giám đốc giỏi của toàn ngành Gốm sứ Việt Nam  và là một giám đốc doanh nghiệp nổi tiếng.Tuy nhiên,người ta mới chỉ biết đến Nguyễn Văn Lưu là một giám đốc doanh nghiệp ngành gốm sứ:Tài năng,tháo vát trong kinh doanh.Giỏi giang, chặt chẽ trong quản lý.Nhưng ít người biết Nguyễn Văn Lưu còn là một tác giả thơ.Trong sổ công tác của anh,xen giữa những trang ghi chép công vụ là những trang thơ.Anh sáng tác thơ trong mọi hoàn cảnh.Hình như thơ đã tiếp thêm sức mạnh cho anh để  anh có thêm tỉnh táo trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.Anh yêu nghề gốm nhưng anh cũng rất yêu thơ.Sau một ngày làm việc căng thẳng,khi đêm đã khuya ngồi một mình,anh lại đến với thơ.Chính tình yêu thơ đã là cầu nối đưa anh đến với các CLB thơ của địa phương.Đến đâu anh cũng được mọi người yêu mến bầu vào các chức danh của CLB.Hiện anh đang là chủ nhiệm CLB thơ huyện Nam Sách,phó chủ tịch CLB thơ tỉnh Hải Dương,phó GĐ trung tâm Văn Hóa UNESCO Đông Bắc…
    Nhân dịp khai mạc”Chương trình du lịch làng gốm cổ Chu Đậu-Hưởng ứng năm du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng-Hải Phòng năm 2013”do UBND tỉnh Hải Dương tổ chức,xin trân trọng giới thiệu một chùm thơ của Nguyễn Văn Lưu-Một giám đốc doanh nghiệp giỏi nghề và yêu thơ.Chùm thơ này được rút ra từ tập thơ:”CHU ĐẬU GỐM & THƠ”.Tập thơ do nhà xuất bản VHDT cấp phép & ấn hành tháng 10 năm 2011:

Bài 1:TÌNH YÊU CHU ĐẬU
Ai cũng bảo rằng thương
Yêu rất nhiều Chu Đậu
Đi xa em vẫn nhớ
Mỗi khi mùa xuân về
Năm trăm năm xa quê
Từ biển sâu xa tít
Từ xứ người mù mịt
Gốm thiêng vẫn tìm về
Ai cũng bảo nhớ quê
Mà sao không thương nổi
Hay quê mình chật chội
Không chứa nổi tình yêu?
Ôi! Tình yêu,tình yêu
Như cánh diều gặp gió
Như lá thư bỏ ngỏ
Không thốt nổi lời yêu!

Bài 2:LÀNG GỐM CỔ
Đêm đã cuộn tròn sự giàu có vào trăng
Con đường vào làng cong vò gốm cổ
Đất nhảy múa đất nhào lặn lửa
Lửa nhảy múa lửa hun đốt nước
Nước nhảy múa nước đổ đầy lòng gốm
Đêm là vò gốm dốc ngược
Rượu chảy ra từ trăng.

Bài 3:HOA GỐM
Tay em như búp hoa xinh
Em vẽ hay múa trên bình hoa Lam
Hiện ra đồng lúa chín vàng
Có đàn cò trắng bay ngang chân trời
Anh nhìn lòng thấy bồi hồi
Nhớ về quá khứ một thời đã xa
Tay em như một búp hoa
Sao em vẽ cả hồn ta vào bình?

Bài 4:MẮT  EM
Mắt em long lanh men gốm
Óng vàng hạt lúa quê mình
Bao nhiêu tình yêu nhắn gửi
Ẩn vào họa tiết lung linh…

Bài 5:NỖI NHỚ HẢI DƯƠNG
Anh biết em yêu lắm Hải Dương
Nơi ấy hồn thơ hồi tấm bé
Ấm áp sông quê tình thương yêu cha mẹ
Có nhớ chăng thời tuổi trẻ nao lòng
Yêu quê hương,yêu lắm,nhớ vô cùng
Bao ước mơ vẫn sục sôi thao thức
Cuộc sống dần trôi áo cơm thúc giục
Mỗi con người chỉ hợp một quê thôi
Ôi!Hải Dương nỗi nhớ trong tôi
Thời gian lướt qua mái đầu điểm bạc
Mỗi sợi tóc phai màu nuôi một ước mơ xanh
Nhớ,yêu,thương bền vững mong manh
Cháy mãi trong tôi làng xóm cũ
Nỗi nhớ vơi đầy Hải Dương

Bài 6:SÔNG CHA SÔNG MẸ
Thái Bình tên ấy dòng sông
Năm trăm năm vẫn mong người trở lại
Năm trăm năm vẫn còn trẻ mãi
Đây!Tên làng Chu Đậu gốm Việt Nam
Dòng sông cha chở đầy sử sách*
Nghe vọng về vang dậy tiếng quân reo
Dòng sông mẹ Thái Bình muôn thuở
Vẫn ấp ôm che chở đất Hải Dương
Như người thương vẫn nhớ người thương
Dòng sông gốm âm vang hồn đất Việt
Gốm Chu Đậu như Việt Nam bất diệt
Mãi trường tồn cùng đất nước thời gian…
*Sông cha:Sông Kinh Thày
                          Chu Đậu 2005
                        Nguyễn Văn Lưu
                              

                                  Đại úy Hải quân Nguyễn Văn Lưu
                                                     

               Tổng giám đốc tổng công ty CP gốm sứ Chu Đậu,mặc sắc phục đại úy Hải Quân chụp ảnh lưu niệm với ban chấp hành CLB thơ huyện Nam Sách,tỉnh Hải Dương
                               
                              
       TGĐ Nguyễn Văn Lưu trao bằng khen cho đại diện CN giỏi nhân ngày     
                                                  22-12-2013

                        












                                
                                               

VÔ ĐỀ


Hè về gió nhẹ, nắng hồng tươi
Ngoài ruộng lúa chiêm đứng ngó trời,
Xa tít đỉnh ngàn cây biếc lộc,
Gió cười ngoài bãi thuyền buông lơi,
Kinh Thày sóng lượn chừng êm ả,
Núi Phượng mây vờn bóng nhẹ trôi,
Người đến thăm đền chân dạo gót
Trời mây xanh thắm nước non ngời.
VN

Cũng là chiến công


Tuổi già có lỗi gì đâu
Bởi chưng là được sống lâu ấy mà
Không còn sức để xông pha
Thì gương mẫu mực cũng là chiến công

                                         Nguyễn Xuân Hiểu

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

CÂY CAU


Trên đất nước thân yêu này, làng nào mà chẳng có những cây cau?

Những cây cau dáng thanh cao đứng thẳng trước nhà đưa cái nõn lên trời như đưa ngọn bút viết vào mây báo hiệu sự yên bình nơi thôn dã. Xung quanh ngọn bút ấy là những tàu cau xòe ra bốn phía. Những tàu cau như những cái lược lớn chải vào nắng gió bốn phương. Gắn liền với tàu cau là những chiếc mo cau xanh đậm ôm lấy thân cau. Những chiếc mo cau nho nhỏ kia sẽ ngày càng phình to, lớn dần. Nó đang thai nghén những mùa cau làm môi người đỏ thắm.
Mùa xuân là mùa cây cau sinh nở. Những chiếc mo cau cứ lớn dần, rồi đến một ngày nào đó, cả tàu cau cứ rã dần ra khỏi thân cau. Một cơn gió khẽ khàng lay động, tàu cau âm thầm rơi xuống đất để lộ ra trên thân cau chiếc bẹ bèn. Chiếc bẹ bèn như hình một con trai lớn (con trai dưới nước). Chiếc bẹ bèn màu xanh non cứ lớn dần. Rồi đến một ngày nắng vàng rực rỡ, chiếc bẹ bèn bung nở một buồng hoa. Hoa cau nhỏ hơn hoa dừa, màu trăng trắng nhưng hương thơm thì ngạt ngào khó quên. Thế rồi buồng cau đậu quả. Những "quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân" ấy cứ lớn dần...

Mỗi một năm, cây cau có thể đến bốn, năm lần sinh nở. Mỗi lần cau nở một buồng. Mỗi buồng tương ứng với một đốt trên thân cau. Mỗi kỳ sinh nở cách nhau vài chục ngày đến một tháng. Buồng cau đầu chỉ độ dăm, sáu chục quả, nhưng buồng sau có tới vài ba trăm quả.

Trầu cau là "đầu câu chuyện" của đời người. Ngay từ ngày xưa, người con trai và người con gái muốn lấy được nhau, người con trai phải về thưa với mẹ cha đem trầu cau đến nhà gái "dạm ngõ". Trong lễ ăn hỏi, lễ cưới, thiếu gì thì thiếu, nhưng nhất thiết không được thiếu trầu cau. Trầu cau trước là để cúng gia tiên, sau là để ông bà, cha mẹ, cô dì, chú bác, họ hàng hai nhà "ăn miếng trầu cay, nói câu chuyện tâm tình, mừng cho đôi trẻ".

Kỳ diệu thay, lá trầu xanh, miếng cau vàng, miếng vôi bạc trắng quyện vào nhau lại tạo nên cái nồng say làm thắm đỏ môi người, làm cho gái trai quấn quýt mặn nồng đến răng long, đầu bạc?

Lại nói về những chiếc mo cau. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chở che cho buồng cau nở, chiếc mo cau và tàu cau âm thầm rơi xuống đất. Bà ta, mẹ ta nhặt lên cắt lấy phần mo cau đem gối đầu giường. Mo cau trước tiên là để làm quạt. Cái quạt mo đã nghìn đời làm bạn với người làng quê. Những trưa hè nóng nực, những đêm hè oi nồng, cái quạt mo trong tay bà, tay mẹ cứ cần mẫn xua đi tiếng vo ve của muỗi, xua đi cái nóng cho cháu con được tròn giấc ngủ. Kỳ lạ thật, có cái gì trong cái quạt mo nhỏ nhắn mà phú ông gạ đổi "ba bò, chín trâu", gạ đổi "một bè gỗ lim"... kia chứ? Hẳn là trong cái quạt mo có cái gì lạ lắm...

Chiếc mo cau còn được bà ta, mẹ ta dùng để nắm cơm. Ngày xưa những ông phó mộc, phó nề, phó cối, phó may, những bác canh điền ở nhà quê ngày ba tháng tám nông nhàn đi làm mướn, làm thuê từ sớm tinh mơ ngày lên đường đã được các bà vợ nắm cho những nắm cơm vừa dẻo, vừa nhuyễn. Các bà không quên bỏ vào nắm cơm ấy dúm muối vừng thơm ngậy gói cẩn thận bằng mấy lần lá chuối khô.
Thời kỳ đấu tranh thống nhất, ngày các cán bộ miền Nam lên đường tập kết ra Bắc, các bà má miền Nam đã nắm những nắm cơm dẻo thơm được xay giã, thổi nấu từ lúa gạo được cấy trên mảnh đất Thành Đồng - rồi gói vào trong những chiếc mo cau. "Mo cơm nếp, trái dừa" trao cho các anh, các bà má miền Nam trao cả niềm tin son sắt vào ngày thống nhất.

Còn chiếc tàu cau, bà ta, mẹ ta dùng để buộc vào thân cây cau theo chiều chúc cuống xuống trỏ vào chiếc chum sành dưới gốc cây cau. Mỗi lần mưa, những tàu cau trên ngọn cây cau lại xòe ra như những bàn tay người hứng lấy giọt nước trong lành. Nước mưa hứng từ ngọn cau qua buồng hoa cau thơm ngát - là một thứ nước trong lành quý báu trời cho. Dùng nước mưa ấy nấu cơm, nấu nước, pha trà, gội đầu thì con người sẽ khỏe mạnh, sống lâu, khoan khoái vô cùng!

Những cây cau dáng thanh cao đứng thẳng mọc khắp từ đồng bằng, miền biển đến miền sơn cước trên khắp đất nước thân yêu trong nắng lửa, gió Lào, trong mưa trút, bão giông ngàn đời vẫn hiên ngang đứng thẳng không bao giờ bị gục ngã. Những thân cau cao gầy ấy cứ cần mẫn đêm ngày xòe những bàn tay lên trời hứng mưa, hứng nắng, tỏa bộ rễ chắc bền bám chặt lấy đất dâng cho đời nồng thắm những mùa duyên...  

                                                  Phạm Minh Giang

Quê hương

 Quê hương Ơi! 
Từ mùa Đông năm ấy xa bến sông,con đò
Xa lũy tre, rặng dừa
Xa xóm nhỏ ven đê
Một trời  thơ dại 

Quê hương ơi! Xa rồi, còn mang  mãi  
Một chiều Đông bóng núi  xa mờ 
Ngọt ngào tiếng ầu ơ … 
Của Mẹ :
À ơi! Cái cò phải lội đồng xa
Cái nông, cái vạc được qua đồng gần … 
Còn em  khuya sớm tảo tần
Gánh gồng mưa nắng gập ghềnh đường quê

Tháng,ngày thoi đưa
Cây đào xưa bao lần thay lá 
Mà em vẫn đợi người đi
Còn tôi, ngày về luôn lỗi hẹn

Nay thỏa chí trai
Râu,tóc bạc rồi
Tôi về tìm lại một thời xa xôi
Tôi về tìm lại một thời em tôi … 

Nha Trang 8/2010 
                    Nguyễn Chính

NHẮN CÙNG ANH ĐỖ ĐĂNG BIÊN

Đăng Biên mê mải tận đâu đâu
Mà vắng tin bài đã khá lâu
Dân xóm Tri Ân ngơ ngẩn ngóng
Sao Người lại nỡ phụ lòng nhau?
                     2-5-2013
                     Song Thu

TAY EM



(Tặng CN công ty CP gốm Chu Đậu)
Tayem thon thả dịu dàng
Bàn tay nặn đất nên vàng bấy nay
Tayem vẽ núi vờn mây
Để bao du khách về đây sững sờ
Tayem cầm bút đề thơ
Con nai vàng đứng ngẩn ngơ cuối chiều
Trời thu xanh đến trong veo
Con cò cõng nắng cánh diều chao nghiêng
Tayem mời gọi trăm miền
Phủ men cho gốm làm duyên cho đời
Thổi hồn cho đất lên ngôi
Tayem ngà ngọc
                   Tay người công nhân
                      
                    Chu Đậu,ngày 16-6-2006
          Rút từ tập:”Bến Chờ”NXB-VHDT
                    Bài và ảnh:Tạ Anh Ngôi